Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐANG ĐẶT RA TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA THÔN, TỔ DÂN PHỐ Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
Ngày đăng 12/08/2019 | 10:30 AM  | View count: 503

Tại Điều 2, Thông tư số 04/2012/TT-BNV ngày 31/8/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố quy định: “Thôn, tổ dân phố không phải là một cấp hành chính mà là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư có chung địa bàn cư trú trong một khu vực ở một xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); nơi thực hiện dân chủ trực tiếp và rộng rãi để phát huy các hình thức hoạt động tự quản, tổ chức nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ cấp trên giao”.

     Như vậy, thôn, tổ dân phố là những tế bào cấu thành đơn vị hành chính cấp xã nhưng không phải là một cấp hành chính, do chính quyền xã, phường, thị trấn trực tiếp quản lý và đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở. 

     Trưởng thôn, tổ trưởng dân phố do cử tri trong thôn, tổ dân phố trực tiếp bầu ra và được Chủ tịch UBND cấp xã công nhận nên có tư cách vừa là người đại diện cho dân, vừa là người đại diện cho chính quyền cấp xã để thực hiện một số nhiệm vụ hành chính tại thôn, tổ dân phố. Do đó, hoạt động của trưởng thôn, tổ trưởng dân phố có ảnh hưởng không nhỏ đến việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và chính quyền cơ sở tại các địa bàn dân cư cũng như góp phần quan trọng trong củng cố khối đoàn kết toàn dân, tạo sự đồng thuận trong cộng đồng dân cư ở cơ sở.

     Với tầm quan trọng như vậy nên mặc dù chỉ là tổ chức tự quản của nhân dân nhưng tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với trưởng thôn, tổ trưởng dân phố, phó thôn, tổ phó tổ dân phố hiện nay được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật của các cấp chính quyền và Mặt trận Tổ quốc từ trung ương đến cơ sở ban hành. Ví dụ như:

     - Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn do Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XI ban hành ngày 20/4/2007;

     - Nghị quyết liên tịch số 09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN ngày 17 tháng 4 năm 2008 của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn thi hành các Điều 11, Điều 14, Điều 16, Điều 22 và Điều 26 của Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn;

     - Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 22/10/2009 quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đổi với cán bộ, công chức ở xã, phường thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã;

     - Nghị định số 34/2019/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 24/4/2019 sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố;

     - Thông tư số 04/2012/TT-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành ngày 31/8/2012 hướng dẫn về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố;

     - Thông tư số 14/2018/TT-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành ngày 03/12/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 04/2012/TT-BNV ngày 31/8/2012;

     - Nghị quyết số 08/2019/NQ-HĐND của Hội đổng nhân dân thành phố Hà Nội ban hành ngày 10/07/2019 về số lượng, chức danh đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; mức phụ cấp, mức phụ cấp kiêm nhiệm đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố; mức bồi dưỡng đối với người trực tiếp tham gia công việc của thôn, tổ dân phố; chế độ hỗ trợ người hoạt động không chuyên trách cấp xã không tiếp tục bố trí công tác trên địa bàn thành phố Hà Nội;

     - Quyết định số 50/2013/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành ngày 18/11/2013 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Hà Nội;

- .v.v.

     Tuy nhiên, vì được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau của chính quyền các cấp và các văn bản này thường xuyên được sửa đổi bổ sung nên trong tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố trên địa bàn Hà Nội hiện nay đang gặp phải một số vướng mắc về pháp lý do có sự mâu thuẫn giữa các quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành. Cụ thể như sau:

     1. Về điều kiện thành lập thôn, tổ dân phố mới:

      Tại khoản 1 – Điều 7 của Thông tư số 14/2018/TT-BNV quy định điều kiện về số lượng hộ gia đình cần thiết để thành lập thôn, tổ dân phố mới là:

     + Thôn ở xã thuộc các tỉnh Đồng bằng sông Hồng có từ 300 hộ gia đình trở lên;

     + Tổ dân phố ở phường, thị trấn thuộc thành phố Hà Nội có từ 450 hộ gia đình trở lên;

 Trong khi quy định tại điểm a, khoản 1 – Điều 5 của Quyết định số 50/2013/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội thì điều kiện thành lập thôn, tổ dân phố mới như sau:

     + Đối với thôn mới ở vùng đồng bằng phải có từ 200 hộ gia đình trở lên, ở vùng miền núi phải có từ 100 hộ gia đình trở lên

     + Đối với tổ dân phố mới phải có từ 250 hộ gia đình trở lên. Đối với tòa nhà chung cư cao tầng phải có tối thiểu 150 hộ gia đình cư trú thường xuyên.

     Như vậy, với quy định này thì số lượng trưởng, phó thôn, tổ dân phố của Hà Nội sẽ nhiều hơn quy định chung của cả nước, cùng với đó là mức kinh phí chi phụ cấp, bồi dưỡng cho các công việc này cũng tăng lên so với bình quân chung.  Trong khi chúng ta đang đẩy mạnh cải cách hành chính, giảm bớt số lượng các đầu mối quản lý trung gian, tinh giản bộ máy, tiết kiệm chi phí theo tinh thần quy định trong Nghị định 34/2019/NĐ-CP thì cần thiết phải điều chỉnh quy định của Hà Nội cho phù hợp với văn bản của cơ quan quản lý cấp trên.

     2. Về số lượng, quy trình bầu, cử phó trưởng thôn, tổ phó tổ dân phố:

     Theo quy định tại khoản 2 – Điều 1 của Thông tư số 14/2018/TT-BNV thì: 

     “Mỗi thôn có Trưởng thôn; mỗi tổ dân phố có Tổ trưởng tổ dân phố. Trường hợp cần thiết thì có 01 Phó Trưởng thôn, 01 Phó Tổ trưởng tổ dân phố.

     Phó Trưởng thôn, Phó Tổ trưởng tổ dân phố do Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố lựa chọn sau khi thống nhất với Trưởng Ban công tác mặt trận thôn, tổ dân phố. Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận Phó Trưởng thôn, Phó Tổ trưởng tổ dân phố”.

     Trong khi đó, theo Quyết định số 50/2013/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tại khoản 1 – Điều 3 quy định: “ngoài trưởng thôn, tổ trưởng dân phố và 01 phó trưởng thôn, tổ phó dân phố thì nếu thôn có trên 500 hộ gia đình, tổ dân phố có trên 600 hộ gia đình thì có thể bố trí thêm 01 phó trưởng thôn, tổ phó tổ dân phố”. Cũng theo quy định tại khoản 2 – Điều 7 và Điều 18 của văn bản này thì phó trưởng thôn và tổ phó tổ dân phố được bầu như quy trình bầu trưởng thôn.

     Quy định của Thông tư 14/2018/TT-BNVQuyết định số 50/2013/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội mâu thuẫn với nhau dẫn đến khó khăn cho các địa phương khi triển khai thực hiện kiện toàn chức danh phó trưởng thôn, tổ phó tổ dân phố ở Hà Nội trong năm 2019. Theo quy định của Nghị định số 34/2019/NĐ-CP và Nghị quyết số 08/2019/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thì đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố hiện nay chỉ có trưởng thôn, tổ trưởng dân phố được hưởng phụ cấp, còn phó trưởng thôn, tổ phó tổ dân phố chỉ được hưởng chế độ bồi dưỡng nên xu hướng là giảm số lượng cấp phó. Mặt khác, cấp phó phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng nên quy định trưởng thôn chọn phó trưởng thôn, tổ trưởng dân phố chọn tổ phó dân phố sau khi thống nhất với Ban công tác Mặt trận và phải được Chủ tịch UBND cấp xã công nhận như Thông tư 14/2018/TT-BNV  là phù hợp với xu hướng cải cách hành chính, giảm bớt chi phí về thời gian, công sức, kinh phí để tổ chức bầu cử phó trưởng thôn, tổ phó tổ dân phố và bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý thôn, tổ dân phố. Do đó, cần thiết phải điều chỉnh quy định của thành phố Hà Nội cho phù hợp với quy định của Bộ Nội vụ.

     3. Về tiêu chuẩn của trưởng, phó trưởng thôn, tổ trưởng, tổ phó tổ dân phố:

     - Tại Điều 11 của Thông tư số 04/2012/TT-BNV quy định:

     “Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố và Phó trưởng thôn, Tổ phó tổ dân phố phải là người có hộ khẩu thường trú và cư trú thường xuyên ở thôn, tổ dân phố; đủ 21 tuổi trở lên, có sức khỏe, nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm trong công tác; có phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức tốt, được nhân dân tín nhiệm; bản thân và gia đình gương mẫu thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương; có kiến thức văn hóa, năng lực, kinh nghiệm và phương pháp vận động, tổ chức nhân dân thực hiện tốt các công việc tự quản của cộng đồng dân cư và công việc cấp trên giao”.

     - Tại Điều 9 của Quyết định số 50/2013/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội quy định tiêu chuẩn của trưởng, phó trưởng thôn, tổ trưởng, tổ phó tổ dân phố:

     Là người có hộ khẩu thường trú và cư trú thường xuyên ở thôn, tổ dân phố (trường hợp tổ dân phố thuộc địa bàn các khu đô thị mới hình thành, thì Tổ trưởng, Tổ phó chỉ cần có đăng ký tạm trú và cư trú thường xuyên); từ đủ 21 tuổi trở lên, có sức khỏe, nhiệt tình, trung thực và có tinh thần trách nhiệm trong công tác; có phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức tốt; tốt nghiệp Trung học cơ sở (cấp II cũ) trở lên; bản thân và gia đình gương mẫu về đạo đức, lối sống, chấp hành tốt chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, được nhân dân tín nhiệm; có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện tốt các công việc tự quản của cộng đồng và công việc cấp trên giao.

     Như vậy, quy định của thành phố Hà Nội về tiêu chuẩn của trưởng, phó trưởng thôn, tổ trưởng, tổ phó tổ dân phố có bổ sung thêm điều kiện là phải tốt nghiệp Trung học cơ sở (cấp II cũ) trở lên. Quy định này không trái với Thông tư 04/2012/ TT –BNV mà chỉ là cụ thể hóa, bổ sung thêm tiêu chuẩn cho phù hợp với thực tế của Hà Nội. Tuy nhiên, quá trình thực hiện quy định này ở một số địa phương của Hà Nội đã gặp phải vướng mắc khi người được nhân dân đề cử, giới thiệu làm trưởng thôn với tín nhiệm cao thì lại chưa tốt nghiệp cấp II còn người đủ tiêu chuẩn theo Quyết định 50/2013/QĐ-UBND thì nhân dân lại không tín nhiệm. Vậy trong trường hợp này sẽ áp dụng theo văn bản nào?

     4. Về lựa chọn văn bản áp dụng khi có xung đột pháp luật

      - Theo quy định tại khoản 2 – Điều 156 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”.

      - Tại điểm b, khoản 1 – Điều 14 của Thông tư số 04/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ quy định: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương”.

     - Tại khoản 10 – Điều 1 của Thông tư số 14/2018/TT-BNV của Bộ Nội vụ quy định: “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, chỉ đạo hoạt động của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố trên địa bàn bảo đảm theo quy định tại Thông tư này và Quy chế về tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành”.

     Như vậy, căn cứ vào các quy định trên thì nếu có xung đột pháp luật xảy ra giữa Thông tư của Bộ Nội vụ và Quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội thì trong quá trình thực hiện phải ưu tiên áp dụng Thông tư của Bộ Nội vụ vì đây là văn bản của cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực ở trung ương, có hiệu lực pháp lý trong phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, đối với tiêu chuẩn của trưởng thôn, tổ trưởng dân phố thì do đặc điểm dân cư của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không giống nhau nên cần vận dụng quy định tại điểm b, khoản 1 – Điều 14 của Thông tư số 04/2012/TT-BNV để UBND cấp tỉnh ban hành quy định cụ thể hóa các tiêu chuẩn cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương mình.

     Tóm lại, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cần sớm ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung Quyết định số 50/2013/QĐ-UBND trên cơ sở cụ thể hóa các văn bản của cấp trên theo đúng quy định để tạo thuận lợi cho hoạt động của thôn, tổ dân phố  trên địa bàn phù hợp với đặc thù của Thủ đô, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, thực hiện chủ trương cải cách hành chính, tinh giản bộ máy, giảm bớt các đầu mối trung gian không cần thiết, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa./.

Người viết: Bùi Thị Phương Liên - Trưởng Khoa Nhà nước và Pháp luật

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh