Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

TẬP TRUNG RUỘNG ĐẤT PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT HÀNG HÓA LỚN THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ XI, XII
Ngày đăng 17/12/2019 | 9:30 AM  | View count: 821

GVC: Phan Văn Thắng

           1. Chính sách, pháp luật liên quan tới tập trung đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp ở nước ta

          - Về chính sách đất đai: Trong quá trình đổi mới chuyển từ cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách đất đai đã từng bước được đổi mới với chủ trương giao đất ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân. Thực hiện chủ trương này, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, đã ban hành Nghị quyết số26-NQ/TW, ngày 5/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch, kế hoạch để sử dụng có hiệu quả; giao đất cho hộ gia đình sử dụng ổn định, lâu dài; mở rộng hạn mức sử dụng đất; thúc đẩy quá trình tích tụ đất đai; công nhận quyền sử dụng đất vận động theo cơ chế thị trường, trở thành một nguồn vốn trong sản xuất kinh doanh.

          Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 31/10/2012, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xác định: Tiếp tục giao đất, cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng có thời hạn theo hướng kéo dài hơn quy định hiện hành để khuyến khích nông dân gắn bó hơn với đất và yên tâm đầu tư sản xuất. Đồng thời, mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng, từng giai đoạn để tạo điều kiện tích tụ, tập trung ruộng đất, từng bước hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn trong nông nghiệp.

          Đến Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định: “Khuyến khích tích tụ, tập trung ruộng đất, phát triển các vùng sản xuất quy mô lớn với hình thức đa dạng, phù hợp với quy hoạch và điều kiện của từng vùng, đặc điểm của từng sản phẩm”.(1)

          - Về pháp luật đất đai: Thể chế hóa chính sách đất đai của Đảng, cụ thể hóa những quy định của Hiến pháp nước ta quan các thời kỳ, hệ thống pháp luật về đất đai đã được hình thành và phát triển. Nhà nước đã ban hành Luật Đất đai năm 1987, 1998, 2003 và gần đây nhất là Luật Đất đai năm 2013, cùng với các Nghị định của Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn của các bộ, ngành trung ương để thực hiện chính sách đất đai của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

          Nhìn tổng thể các văn bản pháp luật đất đai từ năm 2003 đến nay, có thể thấy sự thống nhất trong quy định về chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Người sử dụng đất có các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê, cho thuê lại… đối với đất đai. Để đáp ứng nhu cầu tích tụ, tập trung ruộng đất phục vụ sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, Luật Đất đai năm 2013 quy định mở rộng thời hạn và hạn mức giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Cụ thể là:

Hạn mức giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối: Không quá 03 ha cho mỗi loại đất đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc khu vực Đông Nam bộ và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long; không quá 02 ha cho mỗi loại đất cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác.

Hạn mức giao đất trồng cây lâu năm: Không quá 10 ha đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 30 ha cho các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.

Hạn mức giao đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất: không quá 30 ha.(2)

          2. Thực trạng về tập trung đất đai phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp ở nước ta.

          - Theo báo cáo kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản cả nước năm 2016 của Tổng cục thống kê(3), thực trạng về tập trung đất đai phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp ở nước ta đã có những bước tiến mới. Ruộng đất được tập trung với quy mô ngày càng lớn với khâu đột phá là dồn điền, đổi thửa và xây dựng cánh đồng mẫu lớn. Tính đến 1-7-2016, cả nước đã có 2294 xã tiến hành dồn điền đổi thửa. Nhờ dồn điền đổi thửa nên diện tích bình quân đất sản xuất nông nghiệp trên mỗi thửa đất của mỗi hộ giảm và diện tích mỗi thửa đất được tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở nước ta

          - Qui mô sử dụng đất của trang trại nông nghiệp: Theo số liệu của Tổng cục thông kê(4), tính đến thời điểm 1-7-2016, cả nước có 33,5 nghìn trang trại nông, lâm nghiệp, thủy sản; tăng 67,2% so với năm 2011. Điều đó cho thấy kinh tế trang trại ở nước ta giai đoạn 2011-2016 đã phát triển với tốc độ khá nhanh, bình quân tăng 10,8%/năm. Số trang trại trên sử dụng 175,8 nghìn ha đất sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 13,5% so với năm 2011. Tính tới 2016, bình quân một trang trại sử dụng 5,2 ha. Tổng số lao động của các trang trại đạt 135,5 nghìn người. Về kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh, trang trại ở nước ta tiếp tục phát triển có hiệu quả. Giá trị nông, lâm, thủy sản của kinh tế trang trại trong 5 năm 2011-2016 tăng 126,1%; bình quân mỗi năm tăng 17,7%.

          - Tập trung ruộng đất sản xuất nông nghiệp theo mô hình cánh đồng mẫu lớn: Theo Tổng cục Thống kê(5), tính đến ngày 1-7-2016 cả nước có tổng số 2262 cánh đồng lớn; trong đó 1661 cánh đồng lúa; 162 cánh đồng rau; 50 cánh đồng ngô; 38 cánh đồng chè búp; 256 cánh đồng lớn trồng các loại cây khác. Tính trung một cánh đồng lớn đạt 256,1 ha.

          Việc tập trung sản xuất nông nghiệp theo mô hình cánh đồng lớn ở các địa phương nước ta đã mang lại những kết quả thiết thực như: giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm, tạo điều kiện để sản xuất hàng hóa nông nghiệp quy mô lớn, nâng cao sức cạnh trạnh của nông sản và của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.

          - Cơ cấu lại hình thức tổ chức và quy mô sản xuất phục vụ phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn theo hướng tăng số doanh nghiệp và hợp tác xã để nâng cao quy mô sản xuất và sức cạnh tranh của sản phẩm và doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, theo số liệu điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản của Tổng cục thống kê(6), năm 2016, cả nước có 3846 doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản tăng 51,7% so với 2011. Số hợp tác xã nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 6302 hợp tác xã năm 2011 lên 6946 hợp tác xã năm 2016; số hộ sản xuất giảm từ 10,37 triệu hộ xuống còn 9,28 triệu hộ. Diện tích đất sản xuất nông, lâm, thủy sản của doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ gia đình đều tăng lên qua các năm. Đối với hộ sản xuất tại thời điểm 1-7-2016, lĩnh vực trồng trọt có gần 49,2 nghìn hộ sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, trồng cây hàng năm từ 5 ha trở lên tăng 13,6% so với năm 2011; 39,5 nghìn ha hộ sử dụng đất trồng cây lâu năm từ 5 ha trở nên tăng 15% so với năm 2011. Diện tích đất sản xuất và số vốn kinh doanh của các doanh nghiệp, hợp tác xã cũng tăng hàng năm để phục vụ sự phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn.

          Về hạn chế: Tập trung ruộng đất ở nước ta còn chậm so với yêu cầu và có thể coi là một “điểm nghẽn” trong phát triển sản xuất nông nghiệp ở nước ta . Thực tế cho thấy nông nghiệp của Việt Nam đang trong tình trạng sản xuất với qui mô nhỏ, phân tán theo các hộ gia đình là chủ yếu, doanh nghiệp đầu tư cho nông nghiệp còn ít so với yêu cầu, chưa khai thác được tiềm năng ,thế mạnh về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội để phát triển … Vì vậy, thúc đẩy tích tu, tập trung ruộng đất nhằm nâng cao hiêu quả sản xuất nông nghiệp, thông qua việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và hình thành khu vực chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hóa hiện đại, chuyên môn hóa, gắn với thị trường trong nước và quốc tế đang là một đòi hỏi khách quan trong phát triển nền nông nghiệp nước ta.

          3. Những giải pháp chủ yếu thúc đẩy tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp hàng hóa lớn

          Một là, Nhà nước cần xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển nông nghiệp cho các vùng và sản phẩm nông nghiệp hàng hóa với chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu thị trường, nhất là các sản phẩm chủ lực mà Việt Nam có tiềm năng, lợi thế.

          Xây dựng quy hoạch phát triển nông nghiệp trung và dài hạn phải trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu thị trường hàng hóa nông sản, gắn với phát huy được lợi thế của từng vùng, từng sản phẩm; gắn với thị trường trong nước và quốc tế; gắn với việc xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam; gắn với việc nâng cao chất lượng nông sản hàng hóa theo tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch; đảm bảo truy suất nguồn gốc xuất xứ nông sản. Để tích tụ, tập trung đất đai phát triển nông nghiệp theo quy hoạch trung và dài hạn, cần sự kết hợp vai trò của Nhà nước và thị trường. Vai trò của Nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ công cho hộ nông dân và doanh nghiệp như: Thông tin thị trường, xúc tiến thương mại, hỗ trợ pháp lý, xây dựng kết cấu hạ tầng cơ bản, đào tạo nghề…Thị trường đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy tích tụ, tập trung ruộng đất phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn. Điều đó đòi hỏi phải hình thành đồng bộ các loại thị trường như : thị trường vốn, lao động, tư liệu sản xuất, ruộng đất, nông sản…

          Hai là, tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất nông nghiệp để thúc đẩy tích tụ, tập trung ruộng đất phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn.

          Thực hiện chính sách mở rộng “hạn điền” cho những chủ thể sản xuất kinh doanh nông nghiệp. Xây dựng hành lang pháp lý tạo điều kiện cho việc đẩy mạnh tập trung ruộng đất phù hợp với điều kiện của từng vùng, dưới nhiều hình thức như:  Các hộ nông dân liên kết ruộng đất với nhau trong các hợp tác xã thành vùng sản xuất lớn; các hộ nông dân tích tụ ruộng đất hình thành trang trại; các hộ nông dân góp vốn bằng quyền sử dụng đất, liên kết với doanh nghiệp hình thành vùng sản xuất hàng hóa lớn; doanh nghiệp nông nghiệp thuê đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ các hộ nông dân để xây dựng vùng sản xuất chuyên canh tập trung…

          Ba là, phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa theo quy hoạch và nhu cầu thị trường

          Hộ nông dân là chủ thể đông đảo có vai trò quan trọng trong phát triển nền nông nghiệp nước ta nhưng phần lớn nông dân chưa được đào tạo bài bản toàn diện từ hạch toán kinh doanh, quản trị sản xuất, đầu tư, tài chính, quản lý chất lượng, xúc tiến thương mại… Vì vậy cần thực hiện các giải pháp tuyên truyền, giáo dục, đào tạo để nâng cao trình độ tư duy cho người nông dân để khắc phục tình trạng nhỏ lẻ, tự phát, phương thức sản xuất theo kinh nghiệm, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa. Cần có chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển các trang trại hiện đại chuyên sản xuất hàng hóa chất lượng cao. Chú trọng việc đào tạo để từng bước hình thành đội ngũ chủ hộ nông dân có trình độ chuyên môn quản trị kinh doanh nông nghiệp hiện đại. Phải có đội ngũ chủ hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi mới có cơ sở nền tảng cho tích tụ, tập trung ruộng đất cho phát triển một nền nông nghiệp hiện đại.

          Bốn là, xây dựng và phát triển các hình thức liên doanh, liên kết trong nông nghiệp.

          Phát triển nền nông nghiệp hiện đại đòi hỏi phải xây dựng và phát triển các hình thức liên doanh, liên kết giữa các chủ thể hộ gia đình, hợp tác xã và doanh nghiệp, trong đó hộ gia đình là chủ thể quan trọng. Xây dựng chuỗi liên kết hợp lý, có sự chia sẻ cả trách nhiệm, nghĩa vụ, lợi ích và rủi ro giữa hộ nông dân với hợp tác xã, các doanh nghiệp và các chủ thể tham gia liên doanh, liên kết. Tùy theo trình độ qui mô và đặc điểm của từng lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có thể lựa chọn và phát triển đa dạng các hình thức liên doanh, liên kết phù hợp, đảm bảo hiệu quả. Doanh nghiệp phải là chủ thể trung tâm kết nối các hộ nông dân, các hợp tác xã với thị trường trong nền nông nghiệp hiện đại. Doanh nghiệp có thể liên kết với các hộ nông dân, các hợp tác xã để đầu tư phát triển vùng nguyên liệu, bảo đảm khâu chế biến và bao tiêu đầu ra cho các sản phẩm v.v…Chính quá trình liên kết chặt chẽ giữa các hộ nông dân với hợp tác xã và các doanh nghiệp là cơ sở để thúc đẩy tích tụ, tập trung ruộng đất cho phát triển nông nghiệp hàng hóa lớn.

          Tóm lại, tích tụ, tập trung ruộng đất là xu hướng tất yếu để phát triển sản xuất nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên sẽ thúc đẩy tích tụ, tập trung ruộng đất, tạo động lực mạnh mẽ phát triển nền nông nghiệp nước ta theo hướng bền vững, đảm bảo chất lượng, hiệu quả của sản xuất nông nghiệp, tăng cường sức cạnh tranh của đất nước trong hội nhập quốc tế.

         

Chú thích:

             (1). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2016, tr282.

            (2). Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/ NĐ-CP, Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013, có hiệu lực từ ngày 01/7/2014

            (3),(4),(5),(6). Thông cáo báo chí về kết quả chính thức về Tổng điều tra Nông thôn, Nông nghiệp và Thủy sản năm 2016 (14h, 9-10-2017) của Tổng cục thống kê

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh