Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

TÌM HIỂU QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP TRONG PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH Ở VIỆT NAM
Ngày đăng 07/04/2020 | 11:39 PM  | View count: 1948

Bùi Thị Phương Liên, Trưởng khoa Nhà nước và Pháp luật Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong Hà Nội

Kể từ khi dịch bệnh viêm phổi cấp do vi rút Corona - 2019 (Covid - 19) xuất hiện ở Việt Nam cuối tháng 01/2020 đến đầu tháng 4/2020 đã làm hơn hai trăm người bị nhiễm bệnh và hàng chục ngàn người đang phải cách ly tập trung, cách ly theo dõi tại cộng đồng. Tính đến ngày 05/4/2020, trên toàn thế giới hiện đã có hơn 1,2 triệu người nhiễm bệnh với gần 70 nghìn người tử vong và những con số này vẫn tiếp tục tăng lên hàng giờ[1]. Trước diễn biễn phức tạp của tình hình dịch bệnh trên thế giới và trong nước, Chính phủ Việt Nam đã phải áp dụng rất nhiều biện pháp quyết liệt, thậm chí nhiều biện pháp chưa từng áp dụng từ trước đến nay để ngăn chặn dịch bệnh lan rộng và giảm thiểu những thiệt hại về kinh tế - xã hội do dịch bệnh gây ra, trong đó, những biện pháp mạnh mẽ nhất đã được thực hiện bao gồm:

1. Bắt buộc cách ly tập trung tại cơ sở do Nhà nước chỉ định đối với các trường hợp nhiễm bệnh Covid – 19 và những người tiếp xúc trực tiếp, tiếp xúc gần với người nhiễm bệnh. Ngân sách Nhà nước và Bảo hiểm y tế chi trả toàn bộ chi phí khám chữa bệnh và ăn ở cho bệnh nhân, người cách ly tập trung là người Việt Nam.[2]

2. Hạn chế đi lại trong cả nước, người dân chỉ ra được ra khỏi nhà trong những trường hợp thật cần thiết, thực hiện cách ly toàn xã hội trong 15 ngày kể từ 0h ngày 01/4/2020 để ngăn vi rus lây lan. Không tập trung quá 2 người ngoài phạm vi công sở, trường học, bệnh viện và tại nơi công cộng.[3]

3. Cơ bản dừng hoạt động vận chuyển hành khách công cộng; các hãng hàng không trong và ngoài nước dừng vận chuyển khách đến Việt Nam; tạm thời đóng cửa các cửa khẩu chính, cửa khẩu phụ dành cho người qua lại trên tuyến biên giới với Lào và Campuchia từ 0h ngày 01/4/2020 đến hết 15/4/2020.[4]

Ngoài những biện pháp đã thực hiện nêu trên, trong phiên họp ngày 01/4/2020, Chính phủ còn dự kiến ban hành Nghị quyết với khoản hỗ trợ lên đến 61.580 tỷ đồng (tương đương 2,6 tỷ USD) dành cho các đối tượng bị giảm sâu thu nhập, thiếu việc làm, không bảo đảm mức sống tối thiểu và các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh. [5]

Những biện pháp quyết đoán, kịp thời, hợp lý của Chính phủ được nhân dân đồng tình ủng hộ, động viên cả nước đồng lòng, quyết tâm chung tay chống dịch. Đến nay, công tác phòng chống dịch bệnh Covid -19 của Việt Nam đã thu được những kết quả rất khả quan, đáng khích lệ và bước đầu đã kiểm soát tốt dịch bệnh, nhưng đồng thời các biện pháp này cũng hạn chế quyền tự do đi lại, quyền làm việc, quyền tự do kinh doanh và một số quyền lợi hợp pháp khác của công dân. Vì thế, cũng có không ít người dân băn khoăn về những biện pháp Chính phủ đã làm và sẽ làm được dựa trên cơ sở pháp lý nào? Có đúng thẩm quyền không? Việt Nam đã đến mức phải ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh chưa? v.v Để giải đáp những câu hỏi đó cần căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành về phòng chống dịch bệnh và tình trạng khẩn cấp ở Việt Nam. Cụ thể như sau:

Theo Điều 1 Pháp lệnh tình trạng khẩn cấp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 23/3/2000 quy định: “Khi trong cả nước hoặc nhiều địa phương có thảm họa lớn do thiên nhiên hoặc con người gây ra, có dịch bệnh nguy hiểm lây lan trên quy mô rộng, đe dọa nghiêm trọng đến tài sản của nhà nước và tổ chức, tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân hoặc có tình hình đe dọa nghiêm trọng đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội thì Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước ban bố tình trạng khẩn cấp để áp dụng các biện pháp đặc biệt nhằm kịp thời ngăn chặn, hạn chế và khắc phục hậu quả xảy ra, nhanh chóng ổn định tình hình”.

Như vậy, căn cứ vào Hiến pháp năm 2013, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Pháp lệnh tình trạng khẩn cấp năm 2000:

- Quốc hội quy định về tình trạng khẩn cấp trong Nghị quyết quy phạm pháp luật (theo khoản 13 – Điều 70 của Hiến pháp năm 2013 và điểm d – khoản 2 – Điều 15 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015).

- Ủy ban Thường vụ Quốc hội  (UBTVQH) có thẩm quyền quyết định ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ thông qua việc ban hành Nghị quyết quy phạm pháp luật (theo khoản 10 – Điều 74 của Hiến pháp năm 2013, khoản 2 – Điều 42 của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm và điểm d, khoản 2 – Điều 16 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015).

- Chủ tịch nước sẽ ban hành Lệnh hoặc Quyết định quy phạm pháp luật để công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp căn cứ vào Nghị quyết của UBTVQH hoặc trong trường hợp UBTVQH không thể họp (theo khoản 5- Điều 88 của Hiến pháp năm 2013 và khoản 2- Điều 17 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015).

- Chính phủ áp dụng các biện pháp cần thiết để thi hành quyết định công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp của UBTVQH hoặc Chủ tịch nước (theo khoản 3 – Điều 96 của Hiến pháp năm 2013).

Một số quốc gia trên thế giới như Mỹ, Úc, Indonesia, Thái Lan…hiện nay đã công bố tình trạng khẩn cấp vì dịch bệnh Covid – 19 nhưng Chính phủ Việt Nam mới chỉ ban hành quyết định công bố dịch. Vậy trong trường hợp nào chúng ta sẽ phải ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh? Những biện pháp Chính phủ được áp dụng trong trường hợp công bố dịch và công bố tình trạng khẩn cấp khác nhau như thế nào?

Ngày 29/01/2020, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 219/QĐ-BYT về việc bổ sung bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút corona (nCov) gây ra vào danh mục các bệnh truyền nhiễm nhóm A theo quy định tại Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007. Do đó, theo quy định điểm c, khoản 2 – Điều 38 của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 thì thẩm quyền công bố dịch Covid – 19 thuộc về Thủ tướng Chính phủ theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế khi dịch lây lan nhanh từ tỉnh này sang tỉnh khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe con người. Theo Điều 2 của Quyết định số 64/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 15/12/2010 về việc quy định điều kiện công bố dịch, công bố hết dịch bệnh truyền nhiễm thì:

Việc công bố dịch bệnh truyền nhiễm chỉ được thực hiện khi có đủ hai điều kiện sau:

1. Có số người mắc bệnh truyền nhiễm vượt quá số người mắc dự tính bình thường của cơ quan y tế tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên.

2. Có ít nhất một trong các yếu tố nguy cơ sau:

a) Quy mô, tính chất của bệnh dịch vượt quá khả năng kiểm soát của cơ quan y tế tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

b) Bệnh dịch được Bộ trưởng Bộ Y tế xác định có sự biến đổi tác nhân gây bệnh, có nguy cơ làm tăng tỷ lệ tử vong và chưa có biện pháp khống chế hiệu quả;

c) Bệnh dịch có tỷ lệ tử vong cao mà chưa rõ tác nhân gây bệnh và chưa có biện pháp khống chế hiệu quả;

d) Bệnh dịch xảy ra khi có thiên tai, thảm họa.”

Như vậy, với tình hình diễn biến của dịch bệnh Covid-19 gây ra đến tháng 3/2020 và đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành thì Việt Nam đã đủ điều kiện công bố dịch bệnh Covid -19, do đó, ngày 01/4/2020, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký Quyết định số 447/QĐ-TTg chính thức công bố dịch Covid-19 trên toàn quốc. Tuy nhiên, tính đến ngày 06/4/2020 nước ta chưa có trường hợp nào tử vong vì dịch bệnh theo số liệu công bố chính thức của Bộ Y tế [6], chưa đến mức “dịch lây lan nhanh trên diện rộng, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe con người và kinh tế - xã hội của đất nước” và chúng ta vẫn đang kiểm soát được tình hình nên chưa cần thiết và chưa đến lúc phải công bố tình trạng khẩn cấp vì dịch bệnh theo Điểm a, khoản 1 – Điều 42 của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007.

Trong trường hợp xảy ra dịch bệnh, theo quy định của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 và Nghị định số 101/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/11/2010 hướng dẫn thi hành Luật này, các cơ quan chức năng có quyền áp dụng một số biện pháp đặc thù để phòng chống dịch như: buộc kê khai y tế, buộc cách ly, buộc điều trị, vệ sinh phòng dịch, tạm đình chỉ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, hạn chế tập trung đông người tại nơi công cộng, cấm sản xuất, kinh doanh một số loại thực phẩm là trung gian truyền bệnh, kiểm soát ra vào vùng có dịch… đối với dịch bệnh thuộc nhóm A. Thẩm quyền thực hiện các biện pháp này được quy định như sau:

1. Về thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp cách ly y tế:

- Trưởng Ban Chỉ đạo chống dịch quyết định việc áp dụng biện pháp cách ly y tế tại nhà hoặc tại cơ sở y tế đối với người xuất phát, đi qua vùng dịch, người tiếp xúc với người mắc bệnh….quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 và khoản 4 - Điều 1 của Nghị định 101/2010/NĐ-CP;

- Người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quyết định áp dụng biện pháp cách ly y tế tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đối với các đối tượng quy định tại điểm a khoản 2- Điều 1của Nghị định 101/2010/NĐ-CP;

- Người đứng đầu cơ quan phụ trách cửa khẩu quyết định áp dụng biện pháp cách ly y tế đối với người, phương tiện, hàng hóa xuất, nhập cảnh… quy định tại khoản 3 -  Điều 1của Nghị định 101/2010/NĐ-CP.

2. Về thẩm quyền áp dụng các biện pháp chống dịch đặc thù: (Quy định tại chương 2 của Nghị định 101/2010/NĐ-CP)

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định việc áp dụng hoặc hủy bỏ việc áp dụng biện pháp tạm đình chỉ hoạt động của cơ sở dịch vụ ăn uống công cộng, hạn chế tập trung đông người hoặc tạm đình chỉ các hoạt động kinh doanh, dịch vụ tại nơi công cộng trong trường hợp dịch xảy ra trên địa bàn theo đề nghị của Thường trực Ban Chỉ đạo chống dịch cấp huyện.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định việc áp dụng hoặc hủy bỏ việc áp dụng biện pháp cấm kinh doanh, sử dụng đối với loại thực phẩm là trung gian truyền bệnh trên địa bàn cấp tỉnh; xem xét, quyết định việc áp dụng hoặc hủy bỏ việc áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người hoặc tạm đình chỉ các hoạt động kinh doanh, dịch vụ tại nơi công cộng trong trường hợp dịch xảy ra trên địa bàn từ hai huyện trở lên theo đề nghị của Thường trực Ban Chỉ đạo chống dịch cấp tỉnh.

- Bộ trưởng Bộ Y tế xem xét, quyết định việc áp dụng hoặc hủy bỏ việc áp dụng biện pháp cấm kinh doanh, sử dụng trong phạm vi toàn quốc đối với loại thực phẩm là trung gian truyền bệnh đã có từ hai tỉnh trở lên quyết định áp dụng biện pháp cấm kinh doanh, sử dụng.

- Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng các Bộ hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ xem xét, quyết định việc áp dụng hoặc hủy bỏ việc áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người hoặc tạm đình chỉ các hoạt động kinh doanh, dịch vụ tại nơi công cộng đối với các hoạt động, dịch vụ có quy mô lớn ở trong nước.

- Trưởng Ban chỉ đạo chống dịch thành lập các chốt, trạm kiểm dịch tại các đầu mối giao thông ra, vào vùng có dịch để kiểm soát ra, vào vùng có dịch đối với dịch bệnh thuộc nhóm A (khoản 2 – Điều 53 của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007).

Căn cứ vào các cơ sở pháp lý nêu trên, Bộ Y tế và chính quyền địa phương các cấp ban hành các quyết định theo thẩm quyền để thực hiện phòng, chống dịch trước và sau khi có quyết định công bố dịch trên cả nước của Thủ tướng Chính phủ ngày 01/4/2020.

Trong trường hợp ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh, theo quy định tại Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 và Nghị định số 71/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/7/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh tình trạng khẩn cấp trong trường hợp có thảm họa lớn, dịch bệnh nguy hiểm:

 Thủ tướng Chính phủ kêu gọi các quốc gia, các tổ chức quốc tế hỗ trợ nguồn lực để chống dịch và phối hợp triển khai các biện pháp ngăn chặn dịch lây lan (Điều 56 – Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007)

Trưởng Ban chỉ đạo chống dịch trong trường hợp khẩn cấp (Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng Chính phủ) có quyền quyết định áp dụng thêm các biện pháp sau ngoài những biện pháp áp dụng trong trường hợp xảy ra dịch bệnh nêu trên (Theo Điều 54, 55– Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 và Điều 4, mục 2 của Nghị định số 71/2002/NĐ-CP):

- Huy động, trưng dụng các nguồn lực quy định;

- Đặt biển báo hiệu, trạm gác và hướng dẫn việc đi lại tránh vùng có dịch;

- Yêu cầu kiểm tra và xử lý y tế đối với phương tiện vận tải trước khi ra khỏi vùng có dịch;

- Cấm tập trung đông người và các hoạt động khác có nguy cơ làm lây truyền bệnh dịch tại vùng có dịch;

- Cấm người, phương tiện không có nhiệm vụ vào ổ dịch;

- Tổ chức tẩy uế, khử độc trên phạm vi rộng;

- Tiêu hủy động vật, thực phẩm và các vật khác có nguy cơ làm lây lan bệnh dịch sang người;

- Và các biện pháp cần thiết khác.

Tóm lại, qua nghiên cứu pháp luật hiện hành của nước ta liên quan đến phòng chống, dịch bệnh và tình trạng khẩn cấp có thể thấy rằng, các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid - 19 mà Chính phủ và các địa phương áp dụng trong thời gian qua là phù hợp với quy định của pháp luật. Trong trường hợp tình hình dịch bệnh diễn biến xấu đi, vượt quá khả năng kiểm soát, có đe dọa đến an toàn sức khỏe của cộng đồng đến mức phải công bố tình trạng khẩn cấp thì cơ quan có thẩm quyền được phép áp dụng các biện pháp quyết liệt hơn để phòng, chống dịch bệnh như cấm đi vào vùng dịch, cấm tập trung đông người (hiện nay mới chỉ hạn chế) … Do vậy, người dân có nghĩa vụ chấp hành, thực hiện nghiêm túc cách quyết định của cơ quan chức năng để phòng, chống dịch bệnh lây lan, các trường hợp cố tình chống đối sẽ bị cưỡng chế, xử lý theo quy định. Điều 38 - Hiến pháp năm 2013 đã ghi rõ: “Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh. Nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sống và sức khỏe của người khác và cộng đồng” . Mặt khác, qua nghiên cứu các quy định pháp luật nêu trên cũng cho thấy sự cần thiết phải ban hành quy định về tình trạng khẩn cấp trong Nghị quyết quy phạm của Quốc hội thay thế cho Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 của UBTVQH để đảm bảo đúng thẩm quyền theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
 

[1] Báo điện tử Chính phủ, ngày 05/4/2020, bài “Việt Nam chưa ghi nhận thêm ca nhiễm Covid-19 mới”

[2] Theo Quyết định số 219/QĐ-BYT ngày 29/01/2020, Công văn số 505/BYT-BH ngày 06/2/2020 của Bộ Y tế.

[3] Theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 31/3/2020

[4] Theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 31/3/2020 và Công văn số 2991/BGTVT-VT ngày 31/3/2020

[5] Báo điện tử Hà Nội mới, ngày 01/4/2020, bài “Chính phủ dự kiến 6 chế độ hỗ trợ người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn do dịch Covid – 19”

[6] Báo điện tử Chính phủ, ngày 06/4/2020, bài “Chống dịch covid-19: Những tin vui từ Tiểu ban điều trị”.

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh