Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY BÁC HỒ GẶP CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN, CUỘC GẶP GỠ LỊCH SỬ, MANG Ý NGHĨA THỜI ĐẠI (7/1920 - 7/2020)
Ngày đăng 28/06/2020 | 4:30 PM  | View count: 753

1. Từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến với chủ nghĩa Mác - Lênin “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(1).

     Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là một cuộc gặp lịch sử. Với quyết tâm tìm con đường cứu nước, sau bao năm bôn ba tới nhiều châu lục, vừa lao động kiếm sống, vừa hoạt động trong phong trào các dân tộc bị áp bức, hoà mình trong cuộc đấu tranh sôi nổi của Đảng Xã hội Pháp để tìm con đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã đọc được Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin. Người đón nhận Luận cương của V.I.Lênin với niềm phấn khởi và tin tưởng của một người chiến sĩ cách mạng sau nhiều năm nghiên cứu lý luận, khảo sát thực tiễn.

      Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin thường được gọi tắt là Luận cương của V.I.Lênin hay Sơ thảo luận cương. Đây là một trong những văn kiện được V.I.Lênin viết để trình bày tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản, họp từ ngày 19 tháng 7 đến ngày 07 tháng 8 năm 1920; ngay sau đó, bản Luận cương này đã được đăng trên tạp chí Quốc tế cộng sản số 11, ngày 14 - 7 - 1920; và trên báo Nhân đạo (L’Humanité) - cơ quan ngôn luận của Đảng Xã hội Pháp, số ra ngày 16 và 17 - 7 - 1920.

      Sơ thảo luận cương ra đời trong điều kiện lịch sử hết sức phức tạp. Trên thế giới, các nước tư bản đế quốc sau chiến tranh đã lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng. Bọn chúng đã trút gánh nặng của cuộc khủng hoảng kinh tế đó lên đầu giai cấp vô sản và quần chúng lao động, cả ở chính quốc và các nước thuộc địa, khiến cảnh khốn cùng của họ cứ tăng lên mãi. Trong tình hình ấy, lòng căm phẫn của công nhân và nhân dân lao động thêm sục sôi, khí thế và tư tưởng cách mạng của họ thêm sâu sắc. Từ Đại hội I đến Đại hội II của Quốc tế Cộng sản là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng thế giới và ngày càng có thêm nhiều quần chúng lao động được thu hút vào cuộc đấu tranh.

     Luận cương của V.I.Lênin đã có ảnh hưởng đặc biệt sâu sắc đối với nhận thức, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Người đã đọc đi, đọc lại nhiều lần và qua lăng kính chủ nghĩa yêu nước chân chính, Người tìm thấy ở đó con đường đúng đắn giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của thực dân.

     Dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trong bài viết “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin”, Người khẳng định: “Lúc bấy giờ, tôi ủng hộ Cách mạng tháng Mười chỉ là theo cảm tính tự nhiên. Tôi chưa hiểu hết tầm quan trọng lịch sử của nó. Tôi kính yêu Lênin vì Lênin là một người yêu nước vĩ đại đã giải phóng đồng bào mình; trước đó, tôi chưa hề đọc một quyển sách nào của Lênin viết.

      Tôi tham gia Đảng Xã hội Pháp chẳng qua là vì các "ông bà" ấy - hồi đó tôi gọi các đồng chí của tôi như thế - đã tỏ ra đồng tình với tôi, với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức. Còn như đảng là gì, công đoàn là gì, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là gì, thì tôi chưa hiểu”(2).

     Người hiểu V.I.Lênin là người đầu tiên kiên quyết lên án mọi thành kiến đối với nhân dân các nước thuộc địa, những thành kiến ăn sâu trong xương tủy nhiều công nhân và nhiều nhà hoạt động chính trị Âu, Mỹ. Bên cạnh đó, V.I.Lênin là người đầu tiên nêu bật ý nghĩa quan trọng của việc giải quyết đúng đắn vấn đề thuộc địa đối với cách mạng thế giới; là người đầu tiên chỉ ra rằng, nếu không có nhân dân các nước thuộc địa tham gia thì không thể có cách mạng xã hội, vạch rõ sự kết hợp cuộc đấu tranh của nhân dân lao động và vô sản giai cấp ở thuộc địa với cuộc đấu tranh của nhân dân lao động và vô sản giai cấp ở chính quốc. Qua đó, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy sự ủng hộ, tìm thấy chỗ dựa, tìm thấy nguồn sức mạnh để vươn tới cái đích của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, những điều này đã giải đáp băn khoăn thắc mắc trước câu hỏi: đứng về Quốc tế nào trong cuộc đấu tranh trong cuộc họp của Đảng Xã hội Pháp?

     Ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ và từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, lúc đó Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh chưa có một khái niệm rõ ràng về giai cấp, đấu tranh giai cấp, đảng chính trị, chủ nghĩa Mác - Lênin... Hành trang của Người mang theo khi xuất dương chính là lòng yêu nước, thương dân. Trong bối cảnh lúc bấy giờ, có nhiều trí thức Việt Nam sống tại Pháp, nhưng Người đã thể hiện sự vượt trội trong tư tưởng khi nhận ra được chân lý lớn của thời đại. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc. Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy phương hướng và đường lối cơ bản của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. Từ đây lịch sử cách mạng Việt Nam chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cách mạng, tư tưởng mà Nguyễn Ái Quốc tiếp nhận được như “cẩm nang thần kỳ” soi sáng con đường đi tới thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

     Sự kiện Nguyễn Ái Quốc đọc bản Luận cương của Lênin, cùng với những hoạt động sát cánh với các tầng lớp công nhân, trí thức Pháp và các đại biểu thuộc địa là tiền đề có tính quyết định việc Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế cộng sản (Quốc tế III) và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Người đã trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Đây là một sự kiện chính trị vô cùng quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Người đã rút ra những lý luận cách mạng phù hợp với con đường cách mạng Việt Nam như: Xác định rõ đâu là kẻ thù của giai cấp, của dân tộc và phải chĩa ngọn cờ cách mạng vào kẻ thù. Xác định rõ động lực to lớn và lực lượng chính của cách mạng đó là giai cấp công nhân và nông dân. Tìm thấy hướng đi của cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa mà Luận cương của V.I.Lênin vạch ra, đó là: Con đường cách mạng vô sản, giành lấy độc lập dân tộc để đi lên chủ nghĩa xã hội; giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng con người.

     Như vậy, Luận cương của V.I.Lênin đã tác động mạnh mẽ và tạo sự chuyển biến trong tư tưởng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam. Đây là sự kiện mang tính chất bước ngoặt đối với Nguyễn Ái Quốc, là mốc Người tìm được con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Đây cũng chính là cơ sở để Người truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, gieo hạt giống cộng sản và trực tiếp chuẩn bị những điều kiện cần thiết bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

      2. Từ lý luận cách mạng, khoa học đã đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi vĩ đại

          Ánh sáng lý luận cách mạng của Lênin đã tỏa sáng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, tất yếu đưa đến sự thành lập chính đảng vô sản. Nguyễn Ái Quốc trực tiếp lĩnh hội chủ nghĩa Mác - Lênin, trực tiếp truyền bá chủ nghĩa chân chính ấy vào cách mạng Việt Nam, đồng thời khi thời cơ chín muồi thì chính Người đã đứng ra kết nối các tổ chức cộng sản, thuyết phục họ thống nhất thành lập một chính đảng duy nhất, tránh được nguy cơ phân rã lực lượng lãnh đạo, nhờ vậy phong trào cách mạng Việt Nam có được bệ phóng tối ưu nhất.

     Các văn kiện Đảng được Nguyễn Ái Quốc khởi thảo và thông qua tại Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng thực sự là tầm nhìn chiến lược do một vĩ nhân biết đoán định rõ đường hướng lịch sử. Đến nay, con tàu cách mạng Việt Nam vẫn đang vận hành đúng quỹ đạo mà Nguyễn Ái Quốc mường tượng cách nay 100 năm, định vị cách nay 90 năm (1930 - 2020).

     Với tư duy sắc bén, vừa có tính biện chứng, vừa có tính thực tiễn sâu sắc, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và giành được những thắng lợi to lớn. Người khẳng định:

      “Về phần chúng tôi, chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi to lớn. Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng, chúng tôi giành được những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác – Lênin”(3).

     Thắng lợi cách mạng tháng Tám năm 1945 chính là thành quả đầu tiên của đường lối chính trị Hồ Chí Minh trong vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về mục tiêu cách mạng, nhiệm vụ cách mạng, chiến lược và sách lược cách mạng, vận động, giác ngộ, tập hợp lực lượng quần chúng đi theo cách mạng; biết phân hóa kẻ thù, biết đoán định thời cơ và mau lẹ chớp lấy thời cơ cách mạng. Nghệ thuật lãnh đạo cách mạng của Đảng ta trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 là nghệ thuật chính trị độc đáo. Đến cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám thắng lợi thực sự là bước trưởng thành vượt bậc về đường lối chính trị của một chính đảng vô sản biết vận dụng nhuần nhuyễn lý luận về bạo lực cách mạng, thấm sâu lời dạy của Lênin: “Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền càng khó hơn”.

     Hồ Chí Minh vị lãnh tụ vĩ đại đã biết phân hóa kẻ thù, “lùi để tiến”, có lúc nhân nhượng để tránh gây xung đột cùng lúc với nhiều kẻ thù, lựa chọn từng đối tượng để đấu tranh “bẻ gãy từng chiếc đũa”, khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường dân tộc để cùng lúc đánh ba thứ giặc: “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”; tận dụng cơ hội thương thuyết để có thêm thời gian quí báu cho chuẩn bị kháng chiến lâu dài.

     Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, dưới ngọn cờ của tư tưởng Hồ Chí Minh, biết vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về đấu tranh giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, đồng thời giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; dựa vào nội lực là chính, nhưng cũng khôn khéo đánh thức lương tri, phẩm giá nhân loại, đưa những người yêu chuộng hòa bình, tiến bộ xích lại gần và cùng đứng về chiến hào chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

     Như vậy, trong hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc, mặc dù chưa có cơ hội trực tiếp gặp V.I.Lênin, nhưng khi được tiếp xúc với học thuyết của V.I.Lênin về vấn đề giải phóng thuộc địa từ những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã tuyệt đối tin tưởng và đi theo con đường cách mạng do V.I.Lênin lãnh đạo. Ðồng thời, ca ngợi thiên tài, tấm gương đạo đức cách mạng cao cả của V.I.Lênin. Từ lòng kính trọng và biết ơn vô hạn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã học tập, nghiên cứu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam để đấu tranh giành độc lập dân tộc và mở ra thời đại mới - thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

     Có được thắng lợi ấy chính là nhờ vào lòng dân yêu nước, niềm tin tuyệt đối của nhân dân với Đảng, với Bác Hồ - vũ khí tinh thần của dân tộc Việt Nam đủ sức đánh bại vũ khí vật chất mà kẻ xâm lược cậy thế. Khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, giữa vòng xoáy thời cuộc, hầu hết các chính đảng vô sản gần như mất phương hướng, phong trào cộng sản quốc tế thoái trào ở mức chưa từng có kể từ sau Tuyên ngôn Đảng Cộng sản (1848) ra đời. Chính khi ấy, Đảng ta đã cho thấy bản lĩnh vững vàng và nhạy bén chính trị, giữ vững nguyên tắc, quyết đoán về chiến lược để tiến hành đổi mới đất nước. Đổi mới nhưng không đổi màu, đổi mới nhưng vẫn kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, vẫn dựa trên hệ tư tưởng mác xít chân chính. Nhiều giá trị mới có tính bổ sung, hoàn thiện, phát triển các giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin đã được Đảng, Bác Hồ đúc kết thành chủ thuyết phát triển trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

     Trải qua 100 năm dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác – Lênin, công cuộc cách mạng của nhân dân ta dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm nên một dân tộc anh hùng trong thời đại Hồ Chí Minh - Thời đại vẻ vang nhất, rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

 

ThS Phùng Thị Kim Oanh - Phó Trưởng khoa Lý luận cơ sở

…………………………….

Tài liệu tham khảo:

 

  1. (1)(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 228.
  1. (3)Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tr.558

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh