Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG TA VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Ngày đăng 13/07/2020 | 10:29 AM  | View count: 2542

Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất (LLSX) và quan hệ sản xuất (QHSX) là quy luật cơ bản, nền tảng của chủ nghĩa duy vật lịch sử, quyết định, chi phối sự vân động của lịch sử xã hội loài người từ hình thái kinh tế - xã hội (KT-XH) thấp lên hình thái KT-XH cao hơn, từ cộng sản nguyên thủy lên dần tới cộng sản chủ nghĩa trong tương lai. Việc vận dụng đúng đắn quy luật này có ý nghĩa thúc đẩy LLSX phát triển, trên cơ sở đó thúc đẩy KT-XH phát triển.

     Từ sau khi đổi mới, KT-XH nước ta có bước phát triển vượt bậc mà một trong những lý do cơ bản là nhận thức và vận dụng đúng đắn quy luật này của Đảng và Nhà nước ta. Sự nhận thức và vận dụng quy luật này có sự phát triển qua mỗi kỳ Đại hội Đảng, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay.

      1. Sự phát triển nhận thức về vấn đề xây dựng và hoàn thiện từng bước QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX.

          Sau giải phóng miền Bắc, ngay từ khi bắt tay và xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), chúng ta đã tuyệt đối hóa vai trò của QHSX: đưa QHSX đi trước, mở đường, tạo động lực cho LLSX phát triển. Đến Đại hội VI, Đảng ta đã thẳng thắn thừa nhận: chúng ta chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa QHSX với trình độ phát triển của LLSX. Thay đổi QHSX nhằm giải phóng sức sản xuất, Đảng ta chủ trương điều chỉnh cơ cấu sản xuất, phân bổ lại cơ cấu đầu tư; “xây dựng và hoàn thiện một bước QHSX mới phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX; cải tạo xã hội chủ nghĩa (XHCN) theo nguyên tắc bảo đảm phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập cho người lao động”[1].

          Tiếp đó, Đại hội VII đã cụ thể hóa định hướng phát triển QHSX: “Phù hợp với sự phát triển của LLSX, thiết lập từng bước QHSX XHCN từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu[2]. Với việc khuyến khích sử dụng nhiều hình thức sở hữu, Đại hội VII đã thực sự tạo bước đột phá - động lực thúc đẩy KT-XH phát triển.

          Đại hội VIII, Đảng ta xác định mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, QHSX tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển LLSX, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và đảm bảo quốc phòng, an ninh vững chắc.

          Để có cơ sở đánh giá tính khả thi và hiệu quả thực tế của sự phù hợp giữa QHSX và LLSX, Đảng ta đưa ra tiêu chí: “Lấy việc giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho CNH, HĐH, nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân làm mục tiêu hàng đầu trong việc khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế (TPKT) và hình thức tổ chức kinh doanh”[3]. Đến Đại hội IX, Đảng ta đưa ra tiêu chí đánh giá thiết thực, cụ thể hơn: Thúc đẩy phát triển LLSX, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội.

          Tại Đại hội IX, tổng kết 20 năm sau đổi mới, Đảng ta khẳng định và nhấn mạnh một trong những đặc trưng của xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là “có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên LLSX hiện đại và QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX”[4].

          Đến Đại hội XI, Đảng ta đã đưa ra mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX trở thành một trong tám mối quan hệ lớn phải đặc biệt chú trọng giải quyết tốt trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH. Chú trọng xây dựng từng bước QHSX XHCN. Đồng thời, “phát triển mạnh mẽ LLSX với trình độ khoa học, công nghệ (KH, CN) ngày càng cao, đồng thời hoàn thiện QHSX trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”[5].

          Cũng tại Đại hội XI, tổng kết 25 năm đỏi mới và 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, Đại hội khẳng định, tán thành nội dung đặc trưng kinh tế của xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng: Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên LLSX hiện đại và QHSX tiến bộ phù hợp. Điều đó không chỉ là sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX mà còn là sự phù hợp với bản chất, định hướng của CNXH. Vì thế, tổng kết 30 năm đổi mới, tại Đại hội XII, Đảng ta khẳng định tiếp tục quán triệt và xử lý tốt mối quan hệ “… giữa phát triển LLSX và xây dựng, hoàn thiện từng bước QHSX XHCN…”[6]một trong 12 nhiệm vụ tổng quát, trọng tâm.

          Như vậy, ở mỗi thời kỳ, giai đoạn khác nhau, Đảng ta luôn đưa ra những chính sách hết sức cụ thể, thiết thực để từng bước khắc phục những mặt yếu kém, tạo ra sự phù hợp giữa QHSX với LLSX, tạo động lực cho KT-XH phát triển. Qua thực hiện đường lối đổi mới, nhận thức của Đảng về yêu cầu xây dựng và hoàn thiện từng bước QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX ngày càng sâu sắc, đúng đắn. Tính hiệu quả của nó mang lại là KT-XH phát triển, đời sống vật chất - tinh thần của nhân dân được nâng cao, đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng với nền kinh tế thế giới.

          2. Sự phát triển nhận thức về chế độ sở hữu và TPKT phù hợp với trình độ phát triển của LLSX.

          Một thời gian dài, chúng ta cho rằng muốn có CNXH chỉ cần xây dựng chế độ sở hữu tập thể XHCN. Vì thế chúng ta đã vội vàng xóa bỏ các TPKT phi XHCN, duy trì duy nhất chế độ công hữu với 2 thành phần: kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác xã. Thực tế cho thấy chính sách này không phù hợp, cản trở sự phát triển KT-XH, đưa kinh tế lâm vào khủng hoảng trầm trọng.

          Khắc phục những nhận thức sai lầm này, bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã có những thay đổi nhận thức có tính chất đột phá về các hình thức sở hữu và TPKT. Đảng ta chủ trương đa dạng hóa các hình thức sở hữu và TPKT phù hợp với trình độ phát triển của LLSX; các TPKT thuộc mọi hình thức sở hữu đa dạng, đều là bộ phận hợp thành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.

          Tại Hội nghị Trung ương 6 khóa VI, Đảng ta đã đưa ra những chính sách đột phá về cơ cấu TPKT, khẳng định tính chất quan trọng của các TPKT. Chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, phù hợp với Việt Nam khi đi từ nền sản xuất nhỏ lên CNXH; đồng thời thể hiện tinh thần dân chủ, đảm bảo mọi người được làm chủ, tự do kinh doanh theo pháp luật. Trong các TPKT, kinh tế quốc doanh giữ vai trò then chốt, có đủ lực lượng chi phối thị trường song không nhất thiết phải chiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành nghề. Kinh tế hợp tác xã, kinh tế gia đình, kinh tế tư nhân được tạo điều kiện phát triển, bởi trong điều kiện từ sản xuất nhỏ đi lên như nước ta, các hình thức kinh tế tư nhân vẫn cần thiết và tồn tại lâu dài trong nền kinh tế quốc dân.

          Tiếp đó, Đại hội VII nêu rõ: “Phát huy thế mạnh của các TPKT, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, bổ sung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân thống nhất. Các đơn vị kinh tế có quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, quan hệ bình đẳng, cạnh tranh hợp pháp, hợp tác và liên doanh tự nguyện”[7]. Với chính sách này, 5 năm sau đổi mới, nền kinh tế nước ta có những bước chuyển biến hết sức năng động, tích cực; mang lại sắc thái mới, tiềm lực mới cho phát triển KT-XH.

          Nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài, đồng thời giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, Đại hội IX và X đã có những đổi mới căn bản về chính sách đối với các TPKT, khẳng định các TPKT là 1 bộ phận quan trọng của kinh tế thị trường định hướng XHCN, cùng phát triển hợp tác, cạnh tranh và bình đẳng trước pháp luật. Trong đó, kinh tế nhà nước có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, kinh tế tư nhân là một trong những động lực phát triển của nền kinh tế.

          Đại hội XII Đảng ta tiếp tục nhất quán đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân và hỗn hợp). Bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu, bảo đảm quyền tài sản được giao dịch thông suốt; bảo đảm quyền bình đẳng trong việc tiếp cận, sử dụng tài sản công của mọi chủ thể trong nền kinh tế. Đây là vấn đề rất mới, nhằm khắc phục “đặc quyền, đặc lợi” trong việc tiếp cận, sử dụng tài sản công.

          Về kinh tế tư nhân, tại Đại hội X, Đảng ta xác định: “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”[8]. Đại hội XI tái khẳng định: “Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế”[9]. Đến Đại hội XII, Đảng nhấn mạnh: “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế”[10] - đây là bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng, phản ánh đúng thực tế vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế ở nước ta hiện nay.

          3. Sự phát triển nhận thức về cơ chế quản lý kinh tế

          Kể từ sau đổi mới đến nay, Đảng ta thường xuyên đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, luôn gắn với yêu cầu phát triển LLSX, CNH, HĐH đất nước. Đại hội VI đã chủ trương bố trí lại cơ cấu kinh tế đi đôi với việc đổi mới cơ chế quản lý theo hướng xóa bỏ tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế. Đại hội VII khẳng định mạnh mẽ hơn: “Đổi mới về kinh tế, chuyển nền kinh tế mang nặng tính tự cấp, tự túc với cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là hoàn toàn cần thiết để giải phóng và phát huy các tiềm năng

sản xuất kinh doanh trong xã hội”[11]. Đại hội VIII, IX, X của Đảng đều nhấn mạnh yêu cầu đổi mới sâu rộng cơ chế quản lý, phát huy những yếu tố tích cực của cơ chế thị trường. Đại hội XI, Đảng ta thống nhất nhận thức nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế vận hành đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ và có hiệu quả nguồn lực, nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế. Đại hội XII nhấn mạnh cơ chế “vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời đảm bảo định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”[12] 

          Như vậy, nhận thức của Đảng về cơ chế quản lý kinh tế ngày càng “mở”, nhằm hướng tối đa vào việc phát triển LLSX, giải phóng sức sản xuất.

          4. Sự phát triển nhận thức về chế độ phân phối sản phẩm

          Trong QHSX, yếu tố phân phối sản phẩm có vai trò rất quan trọng, bởi nó tác động trực tiếp đến lợi ích và thái độ của người lao động, ảnh hưởng đến năng suất lao động. Vì thế để tạo động lực cho sự phát triển thì việc đầu tien cần thiết là phải thực hiện công bằng trong phân phối, trong đó công bằng cả trong phân phối tư liệu sản xuất và phân phối kết quả làm ra.

          Khắc phục sai lầm trong phân phối ở thời kỳ bao cấp với chế “cào bằng bình quân”, “tối thiếu 13, tối đa 19”. Chính cơ chế đó đã làm thui chột động lực phát triển, kìm hãm nền kinh tế. Từ Đại hội VI, cơ chế phân phối đã được Đảng ta đặc biệt quan tâm và đổi mới rõ rệt.

          Phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thực hiện nhiều hình thức phân phối, không chỉ phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh, Đảng ta ngày càng chú trọng hình thức phân phối theo kết quả đóng góp thông qua phúc lợi xã hội và phân phối qua hệ thống an sinh xã hội. Đến Đại hội VIII, Đảng ta chỉ rõ: “Công bằng xã hội không chỉ được thực hiện trong phân phối kết quả sản xuất, mà còn được thực hiện ở khâu phân phối tư liệu sản xuất, ở tạo việc ra những điều kiện cho mọi người phát huy tốt năng lực của mình”[13]. Đại hội X, Đảng ta cụ thể hóa thêm 1 bước “thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội; đồng thời, phải hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội”[14]. Mặt khác, tiền lương phải được coi là giá cả sức lao động, được hình thành theo quy luật thị trường, dựa trên cung-cầu về sức lao động, chất lượng, cường độ lao động và mức cạnh tranh về việc làm. Những quy định hết sức cụ thể về phân phối sản phẩm có ý nghĩa vô cùng quan trọng, kích thích trực tiếp đến tinh thần và thái độ của người lao động.

          Phát huy những ưu thế của việc thay đổi phương thức phân phối, Đại hội XI nhấn mạnh: “Công bằng trong phân phối các yếu tố sản xuất, tiếp cận và sử dụng các cơ hội, điều kiện phát triển. Phân phối kết quả làm ra chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo ức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội”[15]. Đến Đại hội XII, Đảng ta rất chú trọng việc phân bổ các nguồn lực phát triển. Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường.

          Có thể nói sự nhận thức và vận dụng mối quan hệ giữa phát triển LLSX và xây dựng, hoàn thiện QHSX XHCN của Đảng đã giúp nền KT-XH nước ta đạt được những thành tựu đáng kể. Song, nó cũng chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển, nguyên nhân sâu xa phải chăng là do QHSX chưa thực sự tạo động lực thúc đẩy LLSX phát triển.

          Từ thực tế việc nhận thức và vận dụng mối quan hệ giữa phát triển LLSX và QHSX trên, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục tìm tòi, đổi mới sáng tạo không ngừng cho phù hợp với thực tiễn:

          Thứ nhất, cần vận dụng phù hợp quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX với từng lĩnh vực, địa bàn.

          Thứ hai, phát huy tối đa nguồn lực của các loại hình sở hữu và loại hình doanh nghiệp để phát triển LLSX theo hướng hiện đại.

          Thứ ba, tiếp tục đổi mới chế độ phân phối trong nền kinh tế thị trường đảm bảo bình đẳng trong phân phối, tạo động lực cho phát triển nguồn nhân lực.

          Thứ tư, triệt để giải quyết khó khăn, ách tắc trong QHSX. Có cơ chế và phân định rạch ròi tầm quan trọng của từng TPKT. Nghiên cứu kỹ, đề ra biện pháp để tăng vai trò của kinh tế nhà nước, đồng thời tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư nhân làm ăn hiệu quả.

           Nhận thức và vận dụng đúng quy luật sẽ là động lực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển KT-XH. Quá trình vận dụng luôn nảy sinh những “mâu thuẫn biện chứng”, cả thuận lợi và khó khăn, do đó, cần có sự thay đổi, điều chỉnh chính sách cho phù hợp thực tiễn, đó là khâu đột phá trong suốt tiến trình phát triển KT-XH của Việt Nam./.

 

ThS.Tăng Thị Thanh Thu - Giảng viên chính Khoa Lý luận cơ sở

 


[1] ĐCSVN, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 43, Nxb CTQG, H.2002, tr.58

[2] Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 51, Sđd, tr.135

[3] ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H.2001, tr.87

[4] ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr.68

[5] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.73

[6] ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H.2016, tr.80

[7] Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 51, Sđd, tr.95

[8] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.83

[9] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.74

[10] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.103

[11] Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 51, Sđd, tr.85

[12] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.25

[13] ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H.1996, tr.113

[14] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.77-78

[15] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.206

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh