Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

TÌM HIỂU GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TÁC PHẨM TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP CỦA HỒ CHÍ MINH
Ngày đăng 20/08/2020 | 4:14 PM  | View count: 940

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử đất nước - kỷ nguyên độc lập tự do, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sự kiện lịch sử trọng đại này gắn với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người dự thảo và công bố Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

     Tuyên ngôn Độc lập chỉ với 1.018 từ, song với tầm cao tư tưởng và tình cảm cách mạng mãnh liệt, bản Tuyên ngôn Độc lập đã lay động con tim và khối óc của hàng triệu người Việt Nam, chứa đựng những giá trị lý luận và thực tiễn sâu  sắc về quyền con người và quyền của các dân tộc; khẳng định dân tộc Việt Nam có quyền được hưởng tự do, độc lập và  quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do mới giành được.

      Về giá trị  lý luận:

      Một là, Tuyên ngôn Độc lập thực sự là một văn kiện có ý nghĩa thời đại và có giá trị cao về mặt lý luận khi hàm chứa trong đó chân lý của nhân loại về quyền con người và quyền của dân tộc, thể hiện rõ một luận đề trong cuộc sống xã hội theo quan điểm duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác-Lênin: ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh.

     Mở đầu Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn ngay bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền năm 1791 của nước Pháp, đó là: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; và: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do, bình đẳng về quyền lợi”.

      Người khẳng định đó là những quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm và chính đáng của mọi con người sinh ra trên trái đất này, không phân biệt màu da, chủng tộc, dòng giống, giới tính. Đây là những quyền mang tính phổ quát của nhân loại.Trên cơ sở viện dẫn các bản Tuyên ngôn đó, Người đã “suy rộng ra” từ quyền của cá nhân thành quyền của cả dân tộc. Tuyên ngôn viết: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Đây là sự phát triển sáng tạo trong tư duy của Người, thể hiện tầm nhìn mang tính thời đại, từ quyền của cá nhân trở thành quyền của dân tộc (do từng cá nhân tạo thành). Như vậy, quyền của mỗi cá nhân con người không tách rời, mà hoà quyện với quyền của quốc gia dân tộc. Các quyền này là lẽ tự nhiên, vì thế, nếu thực dân Pháp tiến hành xâm lược, áp đặt lại ách thống trị lên đất nước Việt Nam là đi ngược lại lẽ tự nhiên, đi ngược lại và chà đạp lên những quyền tự do, bình đẳng, bác ái mà cha ông họ đã hùng hồn tuyên bố và theo đuổi. Hành động xâm lược đó là phi nghĩa. Hành động ấy phải và đã được đáp trả bằng cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

      Hai là, Tuyên ngôn Độc lập là văn bản báo hiệu một thời đại mới, thời đại giải phóng các dân tộc khỏi sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân trên phạm vi toàn thế giới, giành lại quyền được sống trong độc lập, tự do. Tuyên ngôn Độc lập đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, giai đoạn xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

     Nội dung của Tuyên ngôn Độc Lập, trên thực tế là kết quả trực tiếp của hoạt động không mệt mỏi về chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh kể từ khi Người viết Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Véc-xây (tháng 6/1919) đòi các nước tư bản thắng trận thực hiện những quyền sống, làm việc tối thiểu của người dân Việt Nam đang rên xiết dưới ách thống trị của thực dân Pháp; Là kết quả các bài báo của Nguyễn Ái Quốc viết về tình cảnh của người dân Việt Nam và người dân các nước thuộc địa khác, tố cáo chế độ áp bức, bóc lột của thực dân, được tập hợp trong cuốn sách Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm 1925; Là kết quả của các bài giảng do Người soạn dành cho các lớp học của những thanh niên yêu nước do Người mở ở Quảng Châu, Trung Quốc, sau đó được tập hợp lại thành cuốn sách Đường Kách mệnh (1927). Đó cũng là kết quả được thể hiện cụ thể trong Chương trình Việt Minh do Người xác định khi thành lập Mặt trận Việt Minh (tháng 5/1941).

        Về giá trị  thực tiễn của Tuyên ngôn Độc lập

      Một là,Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử, một văn bản pháp lý quan trọng bậc nhất khẳng định mạnh mẽ chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt Nam trước toàn thế giới, mở ra thời kỳ mới của dân tộc ta. Đây là văn kiện lịch sử có tầm quan trọng đặc biệt trong lịch sử Việt Nam hiện đại; là sự tiếp nối dòng chảy lịch sử dân tộc,  từ bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” của  Lý Thường Kiệt  năm 1077; “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi năm 1428, giành lại nền độc lập tự chủ cho đất nước.Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là bản Tuyên ngôn đánh dấu mốc trọng đại trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc; chấm dứt ách thống trị của thế lực xâm lược từ phương Tây trong 87 năm (1858-1945); sự chiếm đóng của phát xít Nhật (từ Đông Bắc Á) trong 5 năm (1940-1945). Tuyên ngôn Độc lập cũng đánh dấu sự kết thúc của chế độ phong kiến quân chủ tồn tại hàng nghìn năm ở Việt Nam. Người đã khái quát được hết hoàn cảnh ra đời của nước Việt Nam, thành quả đấu tranh của toàn thể dân tộc: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà”.

      Hai là,  Tuyên ngôn Độc lập khẳng định dân tộc Việt Nam có quyền được hưởng tự do, độc lập và sẽ quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do mới giành được. Tuyên ngôn đã khẳng định một thực tế là: “Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp” và “Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà”. Với lời lẽ giản dị, rõ ràng nhưng đanh thép, Tuyên ngôn khẳng định: “Một dân tộc đã gan góc chống lại ách nô lệ hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập”. Tuyên ngôn Độc lập kết thúc bằng quyết tâm sắt đá: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”.

     Tuyên ngôn Độc lập là sự kết tinh cả về lý luận và thực tiễn hoạt động cách mạng của cuộc hành trình hơn 30 năm tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Tuyên ngôn Độc lập có ý nghĩa mang tầm thời đại, khi những tư tưởng, quan điểm của Người đã và đang thể hiện giá trị lý luận và thực tiễn trong tiến trình phát triển của dân tộc và nhân loại. Đó là sự thống nhất biện chứng giữa quyền độc lập dân tộc và quyền sống của mỗi con người; là sự thể hiện giữa khát vọng sống trong hoà bình, tự do. Bởi thế, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, vấn đề độc lập, chủ quyền mà Tuyên ngôn Độc lập đã đề cập cách đây 75 năm vẫn có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc. Tuyên ngôn Độc lập đã thức tỉnh, lay động, cổ vũ tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, khẳng định tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, từ đó  tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân thành một khối thống nhất, tạo nên sức mạnh vô địch  bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, quyền tự do của nhân dân.

     Ngày nay, khi đất nước đã hoàn toàn độc lập, song tình trạng tranh chấp chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ trên Biển Đông giữa các nước có liên quan đang diễn ra phức tạp, chúng ta cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc giá trị lý luận và thực tiễn của Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch  Hồ Chí Minh để kiên định lập trường trước sau như một trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền đất nước, độc lập dân tộc, tự do của nhân dân. Nhân dân Việt Nam có quyền tự hào về thành quả cách mạng của cha ông trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, đồng thời  có nghĩa vụ, trách nhiệm  để bảo vệ thành quả lịch sử đóvới tinh thần kiên quyết  mà Tuyên ngôn đã khẳng định: “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền độc lập, tự do”./.

Th. S Đặng Thị Minh Hảo-  Giảng viên chính Khoa Xây dựng Đảng

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh