Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

Một số vấn đề đặt ra khi thực hiện thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội
Ngày đăng 12/10/2020 | 10:45 AM  | View count: 760

“Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân”.

     Mặc dù là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương nhưng thực tế hoạt động của HĐND xã, phường, thị trấn trong cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng vẫn còn những hạn chế nhất định, chưa tương xứng với vị trí, vai trò trong hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương cũng như với nhiệm vụ mà Nhân dân giao phó. Vì vậy, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở trong xu thế đổi mới tổ chức, hoạt động của Nhà nước, góp phần tìm ra mô hình tổ chức, hoạt động tối ưu, phù hợp với chính quyền đô thị và nông thôn theo định hướng của Hiến pháp năm 2013 và của Luật số 47/2019/QH14 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương, trong đó quy định: chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.”, từ 01/7/2021, ở Hà Nội sẽ thực hiện thí điểm bỏ HĐND phường tại các quận và thị xã Sơn Tây theo quy định của Nghị quyết số 97/2020/QH14 của Quốc hội ban hành ngày 27/11/2019 về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội. Thực hiện Nghị quyết số 97, chính quyền cơ sở ở đô thị của Hà Nội sẽ có những sự thay đổi rất lớn so với hiện nay, cụ thể như sau:

      Thứ nhất, chính quyền địa phương ở các phường thuộc quận, thị xã tại thành phố Hà Nội là Ủy ban nhân dân phường và cơ cấu tổ chức của UBND phường cũng có sự thay đổi so với quy định hiện hành.

     Năm 2009, nước ta đã thực hiện thí điểm thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường tại 67 huyện, 32 quận và 483 phường của 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đó là: Lào Cai; Vĩnh Phúc; Thành phố Hải Phòng; Nam Định; Quảng Trị; Thành phố Đà Nẵng; Phú Yên; Thành phố Hồ Chí Minh; Bà Rịa - Vũng Tàu; Kiên Giang theo Nghị quyết 26/2008/QH12 của Quốc hội có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 4 năm 2009. Đánh giá sau 02 năm thực hiện Nghị quyết số 26/2008/QH12 đã thu được một số kết quả nhất định trong tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương ở những nơi thí điểm bỏ HĐND như: giảm bớt bộ máy và biên chế, tiết kiệm cho ngân sách nhà nước… nhưng đồng thời cũng bộc lộ nhiều bất cập trong việc bầu Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân huyện, quận; cơ chế thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân thông qua chức năng quyết định và giám sát của HĐND chưa có giải pháp thay thế hữu hiệu tạo ra khoảng trống trong kiểm soát quyền lực Nhà nước… Mặc dù Hà Nội không nằm trong danh sách các tỉnh thực hiện thí điểm theo Nghị quyết 26/2008/NQ-QH12 của Quốc hội, tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa của Thủ đô đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tổ chức lại bộ máy chính quyền địa phương để phù hợp với mô hình thành phố thông minh, đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước để tạo sức bật phát triển cho Thành phố, do vậy, từ việc thí điểm bỏ HĐND quận, huyện, phường của các địa phương trước đây, Hà Nội đã rút được kinh nghiệm cho việc thí điểm lần này tại địa phương mình để chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi triển khai thực hiện. Theo quy định của Nghị quyết 97/2019/QH14, sau khi bỏ HĐND thì “chính quyền địa phương ở các phường thuộc quận, thị xã tại thành phố Hà Nội là Ủy ban nhân dân phường”[1].và “Ủy ban nhân dân phường là cơ quan hành chính nhà nước ở phường”[2] Đối với các chính quyền xã, thị trấn thì chính quyền địa phương vẫn gồm có HĐND và UBND.

     Về cơ cấu tổ chức UBND ở những nơi thí điểm bỏ HĐND, “Ủy ban nhân dân phường gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các công chức khác của phường. Ủy ban nhân dân phường loại I và loại II có không quá 02 Phó Chủ tịch; phường loại III có 01 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân”. Cơ cấu này của UBND phường có thay đổi so với trước kia. Cụ thể:

Nội dung

Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015

Theo Nghị quyết 97/2019/NQ-QH14

UBND phường gồm

Chủ tịch, phó Chủ tịch, Ủy viên phụ trách quân sự và Ủy viên phụ trách công an

Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các công chức khác của phường

 

Số lượng

phó chủ  tịch

UBND phường loại I có không quá 2 phó chủ tịch, phường loại II và loại III không quá 1 phó chủ tịch

UBND phường loại I và loại II có không quá 02 Phó Chủ tịch; phường loại III có 01 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân

 

     Theo dự kiến, Hà Nội sẽ thí điểm không tổ chức HĐND phường từ ngày 01 tháng 7 năm 2021  tại 177 phường thuộc 12 quận và thị xã Sơn Tây của thành phố Hà Nội, theo đó sẽ giảm được từ 2.900 - 3.500 cán bộ HĐND cấp phường.[3]  Không những thế, theo quyết định số 19/2020/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội ban hành ngày 07/9/2020 về việc quy định số lượng và một số nội dung về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn trên địa bàn thành phố Hà Nội thì số lượng cán bộ, công chức của chính quyền cấp xã trên toàn thành phố cũng được giảm bớt, bình quân giảm 02 người/ 01 đơn vị cấp xã so với hiện tại.

     Như vậy khi thực hiện theo các quy định này sẽ giảm sự cồng kềnh của bộ máy và giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước nhưng đồng thời cũng đặt ra vấn đề giải quyết số biên chế dôi dư sau khi tinh giản bộ máy như thế nào cho hợp lý? Mặt khác, khi giảm số lượng cán bộ, công chức, giảm bộ máy trong khi công việc của chính quyền cơ sở không những không giảm mà còn có xu hướng tăng lên so với hiện tại theo quy định của Luật số 47/2019/QH14 và sự phát triển của Thủ đô thì số lượng nhiệm vụ mà mỗi cán bộ, công chức của phường phải giải quyết cũng tăng lên tương ứng, từ đó đặt ra vấn đề về năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức phường trong tình hình mới phải đáp ứng những tiêu chuẩn cao hơn đi kèm với chế độ, chính sách tiền lương thỏa đáng… Để giải quyết những vấn đề đặt ra này không đơn giản và nếu ngay từ bây giờ các cấp có thẩm quyền không nghiên cứu, tìm ra được những giải pháp đồng bộ để giải quyết vấn đề nhân sự song song với đổi mới tổ chức bộ máy thì khi thực hiện tinh giản sẽ gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, có thể gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, gây tâm lý bức xúc trong đội ngũ cán bộ, công chức và nhân dân cũng như làm ảnh hưởng đến mục tiêu của cải cách, đổi mới.

      Thứ hai, UBND phường làm việc theo chế độ thủ trưởng, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ.

      Chế độ thủ trưởng được hiểu là chế độ lãnh đạo, làm việc trong đó người đứng đầu cơ quan, tổ chức có toàn quyền tự quyết định và chịu trách nhiệm cá nhân về mọi vấn đề trong phạm vi thẩm quyền của cơ quan, tổ chức do mình quản lý.

     Chế độ thủ trưởng thường được áp dụng trong cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền riêng (bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện) và các đơn vị sự nghiệp công lập và khi thực hiện thí điểm thì chế độ thủ trưởng cũng được áp dụng tại UBND phường của các quận, thị xã ở Hà Nội. Như vậy, sau khi bỏ HĐND phường, UBND phường sẽ chuyển từ chế độ làm việc kết hợp tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách sang chế độ thủ trưởng, theo đó, các Phó chủ tịch UBND phường và ủy viên UBND phụ trách công an, quân sự không còn quyền biểu quyết ngang với Chủ tịch UBND phường trong các phiên họp UBND và không còn cơ chế thảo luận tập thể, quyết định theo đa số trong hoạt động của UBND phường. Tuy nhiên, UBND phường hoạt động theo chế độ thủ trưởng nhưng công chức phường lại do Chủ tịch UBND quận, thị xã tuyển dụng, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật (khoản 2 – Điều 4 của Nghị quyết 97/2019/QH14). Vậy làm thế nào để phát huy hiệu quả vai trò lãnh đạo trong chế độ thủ trưởng của Chủ tịch UBND phường? Từ đó đặt ra yêu cầu phải sửa đổi quy chế làm việc hiện hành của UBND phường cho phù hợp với tình hình mới.

     Hiện nay, quy chế làm việc của UBND cấp xã đang thực hiện theo quy định chung về quy chế làm việc mẫu của UBND xã, phường, thị trấn ban hành kèm theo quyết định số 77/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 13/4/2006, trong đó quy định chế độ làm việc tập thể của UBND. Do đó, để thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về bỏ HĐND phường ở một số địa phương (như Hà Nội, Đà Nẵng) thì Chính phủ cần sớm ban hành quy định mới về quy chế làm việc của UBND phường ở những nơi thí điểm tổ chức bỏ HĐND hoặc giao quyền, ủy quyền cho UBND cấp tỉnh ở những nơi này quy định quy chế làm việc của UBND phường cho phù hợp với đặc thù địa phương làm cơ sở cho tổ chức, hoạt động của UBND ở những đơn vị thí điểm từ ngày 01/7/2021.

      Thứ ba, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường là công chức giữ chức danh lãnh đạo, quản lý của Ủy ban nhân dân phường.

     Theo Nghị quyết 97/2019/NQ-QH14 thì Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường là công chức giữ chức danh lãnh đạo, quản lý của Ủy ban nhân dân phường chứ không còn gọi là cán bộ cấp xã theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Điều đó có nghĩa là chủ tịch và phó chủ tịch UBND phường sẽ thực hiện các quy định về bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật…giống như công chức chứ không thực hiện theo chế độ bầu cử như trước đây, và thẩm quyền quyết định các vấn đề này thuộc về chủ tịch UBND quận, thị xã. Quy định này đặt ra vấn đề về chế độ, chính sách tiền lương, kỷ luật của Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND phường sẽ thực hiện như thế nào khi chuyển từ vai trò cán bộ cấp xã sang công chức giữ chức danh lãnh đạo, quản lý mà không phải là công chức cấp xã như quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019)? Hiện nay, trong hệ thống pháp luật hiện hành của chúng ta chưa có quy định về chức danh công chức lãnh đạo, quản lý ở cấp xã, do đó, cần bổ sung thêm các quy định này trong các văn bản pháp lý của Quốc hội, Chính phủ để phù hợp với tình hình thực tiễn, tránh lúng túng, vướng mắc khi thực hiện thí điểm bỏ HĐND phường.

      Thứ tư, thay đổi trong quy định nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND, UBND quận, thị xã và UBND phường.

     UBND phường là cơ quan hành chính nhà nước ở cơ sở và không có HĐND phường thì quyền giám sát của HĐND phường trước đây được trao cho HĐND quận, thị xã. Nghị quyết 97 quy định: Hội đồng nhân dân quận, thị xã thực hiện việc giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp mình ở phường; giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường (khoản 4 – Điều 2 – Nghị quyết 97/2019/QH14). Như vậy, chỉ một HĐND quận, thị xã phải giám sát hoạt động của UBND nhiều phường trên địa bàn, trong khi chưa có quy định mới về tổ chức, hoạt động và số lượng đại biểu HĐND quận, thị xã ở những nơi thí điểm. Các nghiên cứu, tổng kết thực tiễn giai đoạn trước đây đã đánh giá HĐND quận, huyện hoạt động kém hiệu quả dẫn đến chúng ta đã thí điểm bỏ HĐND quận, huyện ở nhiều địa phương trong cả nước từ năm 2009 nên trong thời gian tới, HĐND quận được giao thêm nhiệm vụ giám sát UBND phường thì chắc chắn khi thực hiện sẽ không tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc. Trách nhiệm của đại biểu HĐND quận, thị xã sẽ nặng nề hơn nên đòi hỏi yêu cầu cao hơn về năng lực, trình độ chuyên môn, bản lĩnh chính trị và kỹ năng hoạt động của đại biểu HĐND, nhất là trong thực hiện chức năng giám sát. Và đặc biệt đòi hỏi người đại biểu HĐND phải đi sâu đi sát với cơ sở và cần có sự phối hợp tốt giữa đại biểu HĐND quận, thị xã với Nhân dân ở phường. Nếu không sẽ dẫn đến tình trạng chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND quận, thị xã không đạt được như mong muốn của người dân và đôi khi chỉ mang tính hình thức. Mặt khác, Nghị quyết 97/2019/QH14 quy định HĐND quận, thị xã có quyền giám sát UBND phường nhưng lại không có quyền bãi nhiệm Chủ tịch UBND phường và quyền chất vấn của đại biểu HĐND quận theo quy định của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 cũng không thể thực hiện đối với Chủ tịch UBND phường. Do đó, để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND quận, thị xã đối với UBND phường thì Quốc hội, Chính phủ cần phải xây dựng bổ sung các quy định cụ thể về quyền hạn, nhiệm vụ giám sát của HĐND quận, thị xã ở những nơi không tổ chức HĐND phường.

     Bên cạnh đó, theo Nghị quyết 97, một số nhiệm vụ trước đây thuộc thẩm quyền của HĐND phường thì nay là thẩm quyền và nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân quận, thị xã như: quyết định, phân bổ, điều chỉnh dự toán thu, chi ngân sách; phê chuẩn quyết toán thu, chi ngân sách của các phường trực thuộc, theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước mà Ủy ban nhân dân quận, thị xã là cơ quan sẽ xây dựng, UBND phường sẽ không còn nhiệm vụ xây dựng dự toán thu chi cho cấp mình nữa. Ngoài ra, UBND phường không còn thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong công tác quản lý nhà nước. Như vậy, quyền tự chủ về tài chính, hoạt động của UBND phường sẽ giảm đi so với trước đây nhưng sự phối kết hợp trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ giữa UBND quận, thị xã với UBND phường sẽ chặt chẽ hơn, tạo ra sự đồng bộ trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước ở địa phương, phù hợp với yêu cầu xây dựng đô thị thông minh.

     Tóm lại, do đặc điểm, tính chất tập trung, thống nhất cao của quản lý đô thị và khi xây dựng Hà Nội theo mô hình thành phố thông minh thì quyền giám sát trực tiếp của Nhân dân được tăng cường thông qua hệ thống chính phủ điện tử và phương tiện thông tin đại chúng nên việc tiếp tục duy trì HĐND ở phường là không còn phù hợp, chỉ nên tổ chức cơ quan hành chính để thực hiện một số công việc cụ thể của quản lý hành chính nhà nước và cung ứng một số dịch vụ công theo phân cấp, ủy quyền của chính quyền cấp trên. Tuy nhiên, để triển khai thực hiện Nghị quyết 97/2019/QH14 đạt mục tiêu đã định thì cần thiết phải ban hành các quy định liên quan, đồng bộ để giải quyết những vấn đề đặt ra liên quan đến tổ chức, hoạt động, nhân sự, tài chính…của các cơ quan nhà nước ở những nơi thí điểm bỏ HĐND phường. Việc ban hành hệ thống văn bản pháp lý đồng bộ sẽ góp phần giảm bớt những khó khăn, vướng mắc khi triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội trên thực tế. Mặt khác, trong quá trình thí điểm cũng sẽ có nhiều vấn đề mới nảy sinh, bộc lộ đòi hỏi chúng ta phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm để vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn sao cho hiệu quả nhất, từ đó tìm ra mô hình chính quyền địa phương phù hợp và những giải pháp tối ưu để thúc đẩy sự phát triển của Thủ đô nói riêng và cả nước nói chung.

Đỗ Thị Thúy Hằng - Khoa Nhà nước và Pháp luật

 

[1] Nghị quyết số 97/2019/NQ-QH14 của Quốc hội

[2] Nghị quyết số 97/2019/NQ-QH14 của Quốc hội

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh