Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN
Ngày đăng 11/11/2020 | 3:35 PM  | View count: 2655

Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng .

     Công chứng viên là những chủ thể tư pháp đặc thù được bổ nhiệm theo trình tự pháp luật quy định để hành nghề công chứng.Theo Khoản 2 Điều 2 Luật Công chứng 2014; “Công chứng viên  là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật này, được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm để hành nghề công chứng.”  Hiện nay vai trò của công chứng viên đối với pháp luật nói riêng và xã hội nói chung ngày càng trở nên quan trọng.

     Ở Việt Nam, hoạt động công chứng xuất hiện khá sớm từ khi thực dân Pháp xâm lược nhằm phục vụ cho chính sách đô hộ của Pháp ở Việt Nam và Đông Dương. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 59/SL năm 1945 quy định về “Ấn định thể lệ thị thực các giấy tờ" và Sắc lệnh số 85/SL năm 1952 về "Thể lệ trước bạ về việc mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất". Theo đó, một số việc chứng nhận các giấy tờ không thành lập cơ quan công chứng chuyên trách mà giao cho Uỷ ban kháng chiến các cấp thực hiện. Ngày 10 tháng 10 năm 1987, Bộ Tư pháp đã ra Thông tư số 574/QLTPK về công chứng nhà nước, đây được coi như văn bản khai sinh hệ thống công chứng nhà nước ở Việt Nam. Khi nước ta bước vào giai đoạn đổi mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, các giao dịch dân sự, kinh tế cũng trở nên phong phú, đa dạng hơn đã kéo theo nhu cầu công chứng gia tăng về số lượng và phức tạp về nội dung. Do đó, các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động công chứng cũng dần được hoàn thiện.

     Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2000 về công chứng, chứng thực lần đầu có những quy định rõ hơn về chế định công chứng viên như trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên và những trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên. Nghị định 75/2000/NĐ-CP xác định chủ thể của hoạt động công chứng là Phòng công chứng. Thời kì này tất cả công chứng viên là công chức nhà nước. Khi Luật Công chứng 2006 ra đời, đây là văn bản tạo bước ngoặt trong quá trình hoàn thiện hệ thống công chứng ở Việt Nam. Chế định công chứng viên được quy định tại chương II được coi là điểm mới cơ bản của Luật Công chứng so với các quy định trước đó. Trước đây các Nghị định của Chính phủ quy định về công chứng chưa làm rõ được vị trí của công chứng viên, người dân nhìn nhận công chứng viên như là một công chức hành chính làm việc trong Phòng công chứng. Luật Công chứng 2006 đã quy định thêm một hình thức tổ chức hành nghề công chứng ngoài Phòng công chứng đó là Văn phòng công chứng và công chứng viên là chủ thể thực hiện hành vi công chứng chứ không phải là tổ chức hành nghề công chứng (Phòng công chứng hay Văn phòng công chứng chỉ là tổ chức hành nghề của công chứng viên). Công chứng viên có thể hành nghề ở hai hình thức tổ chức hành nghề công chứng là Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng chứ không chỉ giới hạn ở Phòng công chứng nhà nước như trước kia, công chứng viên lúc này không nhất thiết là công chức nhà nước như thời kì trước.Việc đề cao vai trò của công chứng viên cùng với    quá trình xã hội hóa hoạt động công chứng là cơ sở để xác định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của công chứng viên.

     Trong bối cảnh, Đảng và Nhà nước ta đang xây dựng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tăng cường cải cách tư pháp để sẵn sàng hội nhập kinh tế quốc tế thì vị trí, vai trò của công chứng viên và hoạt động công chứng trong xã hội ngày càng được nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn. Hoạt động công chứng, chứng thực hiện nay không những phục vụ cho các quan hệ dân sự, kinh tế trong xã hội mà còn hỗ trợ cho hoạt động tư pháp. Điều 3 Luật Công chứng năm 2014 quy định chức năng xã hội của công chứng viên: “Công chứng viên cung cấp dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm thực hiện nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; phòng ngừa tranh chấp; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội”.  Để bảo đảm mục tiêu đó, hệ thống các tổ chức hành nghề công chứng cần được thiết lập trong một khuôn khổ rõ ràng và đáng tin cậy và công chứng viên- những người trực tiếp thực hiện hoạt động công chứng, chứng thực, những “công lại” của Nhà nước, được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm để hành nghề công chứng phải hoạt động thực sự hiệu quả.

     Công chứng viên là những người đủ tiêu chuẩn và được đào tạo một cách bài bản - chính là những chủ thể trực tiếp thực hiện hoạt động công chứng. Trong quá trình thực hiện hoạt động công chứng, công chứng viên sẽ thực hiện một chuỗi các bước công chứng theo những trình tự thủ tục chặt chẽ trên cơ sở ghi nhận đầy đủ và khách quan yêu cầu mục đích của các bên cũng như tuân thủ các quy định của pháp luật. Văn bản công chứng được tạo ra có thể đạt được ba mục tiêu đó là sự bảo đảm thực thi với các chủ thể có liên quan, tính pháp lý và là bằng chứng trước tòa. Những sản phẩm của hoạt động công chứng mà họ tạo ra có giá trị bắt buộc thực hiện với các bên liên quan trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác. Trong một số trường hợp, các bản sao chỉ có giá trị pháp lý và được thừa nhận khi các văn bản này được công chứng, chứng thực. Điểm c Khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, theo đó, những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp thì không phải chứng minh. Trong trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thì thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính. Như vậy, hoạt động công chứng được thiết kế nhằm tạo ra sự an toàn pháp lý đáp ứng sự phát triển ngày càng phức tạp của các quan hệ dân sự trong xã hội. Với vai trò là bổ trợ viên tư pháp, công chứng viên có chức năng như một “thẩm phán phòng ngừa”, một bên thứ ba không thiên vị bất cứ bên nào, giúp các bên hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật, tư vấn soạn thảo hợp đồng và ghi nhận yêu cầu của họ một cách rõ ràng và chính xác đồng thời ngăn chặn thỏa thuận bất công hay bất hợp pháp của các bên, góp phần hạn chế những tranh chấp hay kiện tụng là hậu quả phát sinh từ các tranh chấp giữa các bên ký kết hợp đồng. Khi công chứng viên thực hiện nhiệm vụ của mình một cách khách quan, vô tư và trung thực, họ đã tạo ra một sự bảo đảm cho các quyền dân sự và góp phần bảo vệ sự ổn định trong xã hội. Tầm quan trọng của hoạt động công chứng đối với xã hội và pháp chế XHCN là không thể phủ nhận. Vì thế, hiện nay Nhà nước và một bộ phận không nhỏ các tổ chức, cá nhân tìm kiếm sự hỗ trợ của một công chứng viên để hướng đến một sự đảm bảo an toàn cho hoạt động đầu tư, các giao dịch dân sự cũng như một số hoạt động khác nhằm hạn chế các thủ tục tố tụng tư pháp tốn kém và lâu dài cũng như giảm gánh nặng của các tòa án tư pháp. Khi hoạt động công chứng phát triển sẽ có tác dụng hỗ trợ phát triển kinh tế thông qua độ tin cậy, minh bạch của các giao dịch trên thị trường và tính pháp lý chặt chẽ của những hợp đồng, giao dịch, giấy tờ được công chứng, chứng thực.

     Tóm lại, công chứng vừa là một hoạt động có tính chuyên môn hóa cao đồng thời cũng là hoạt động mang tính xã hội sâu sắc. Công chứng viên thực hiện hoạt động của mình như một công cụ hỗ trợ để thực hiện công lý, phòng ngừa tranh chấp và hướng tới tạo ra một môi trường pháp lý ổn định, tăng cường pháp chế XHCN. Trong những năm qua, hoạt động công chứng đã góp phần không nhỏ vào đời sống kinh tế, xã hội của đất nước, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thị trường, hỗ trợ công dân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế của các tổ chức, cá  nhân trong và ngoài nước, góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Bùi Thái Hà - Giảng viên khoa Nhà nước pháp luật

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh