Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẦU TRƯỞNG THÔN, TỔ TRƯỞNG TỔ DÂN PHỐ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngày đăng 20/11/2020 | 10:36 AM  | View count: 399

Điều 24, Quyết định số 16/2019/QĐ-UBND ngày 19/9/2019 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Hà Nội hướng dẫn việc bầu cử Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố tại hội nghị thôn, tổ dân phố như sau:

     Hội nghị bầu Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố được tiến hành khi có trên 50% số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân ph ố  tham dự.

      Việc bầu cử có thể bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín do hội nghị quyết định.

      Nế u bầu cử bằng hình thức giơ tay, tổ bầu cử trực tiếp đếm số biểu quyết của từng người ứng cử. Nếu bầu bằng hình thức bỏ phiếu kín, Tổ bầu cử làm nhiệm vụ phát phiếu, hướng dẫn cách thức bầu cử, kiểm phiếu .

      Tổ bầu cử tiến hành kiểm phiếu tại nơi bỏ phiếu ngay sau khi kết thúc cuộc bỏ phiếu; mời 2 đại biểu cử tri không phải là người ứng cử có mặt tại đó chứng kiến việc kiểm phiếu.

      Kiểm phiếu xong, Tổ bầu cử lập biên bản kiểm phiếu. Biên bản kiểm phiếu phải ghi rõ: Tổng số cử tri (hoặc cử tri đại diện hộ gia đình) của thôn, tổ dân phố; số cử tri (hoặc cử tri đại diện hộ gia đình) tham gia hội nghị; số phiếu phát ra; số phiếu thu vào; số phiếu hợp lệ; số phiếu không hợp lệ; số phiếu và tỷ lệ bầu cho mỗi người ứng cử so với tổng số cử tri (hoặc cử tri đại diện hộ gia đình) toàn thôn, tổ dân phố.

      Người trúng cử Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố là người đạt trên 50% số phiếu bầu hợp lệ so với tổng số cử tri (hoặc cử tri đại diện hộ gia đình) trong toàn thôn, tổ dân phố.

      Biên bản kiểm phiếu lập thành 03 bản có chữ ký của các thành viên Tổ bầ u cử;

      Tổ trưởng tổ bầu cử báo cáo kết quả bầu cử Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, kèm theo Biên bản kiểm phiếu gửi ngay Ủy ban nhân dân , Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.

      Trường hợp kết quả bầu cử không có người nào đạt trên 50% số phiếu bầu hợp lệ so với tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong toàn thôn, tổ dân phố thì tiến hành bầu cử lại chức danh đó. Ngày bầu cử lại do Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định, nhưng chậm nhất không quá 15 ngày, kể từ ngày tổ chức bầu cử lần đầu.

Trường hợp tổ chức bầu cử lần thứ hai mà vẫn không bầu được chức danh Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã qu y ết định cử chức danh Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố lâm thời cho đến khi bầu được Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố mới. Trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày có quyết định cử Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố lâm thời, Ủy ban nhân dân cấp xã phải tổ chức bầu cử chức danh này.

     Như vậy, từ quy định trên có thể hiểu, người ứng cử nào đạt trên 50% số phiếu bầu hợp lệ so với tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong toàn thôn mới được công nhận trúng cử. Trường hợp kết quả bầu cử không có người nào đạt trên 50% số phiếu bầu hợp lệ so với tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong toàn thôn, tổ dân phố thì tiến hành bầu cử lại.

     Thực tế công tác bầu cử trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian qua cho thấy, có một số thôn, tổ dân phố khi công bố kết quả bầu cử không có người nào đạt được trên 50% số phiếu bầu hợp lệ so với tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong toàn thôn, tổ dân phố và đã phải tiến hành bầu cử lại. Tuy nhiên, kể cả khi tiến hành bầu lại thì có nơi vẫn không “tìm được” trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do không thuyết phục được cử tri trong thôn, tổ dân phố đi bầu cử. Vấn đề đặt ra là, phải làm thể nào để đảm bảo được tỷ lệ trên 50% số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong toàn thôn, tổ dân phố tham dự?

     Với tư cách một thiết chế bảo đảm dân chủ, bầu cử có những nguyên tắc chung nhất mà bất cứ hoạt động bầu cử ở đâu cũng đều phải tuân theo. Hiện nay, bầu cử trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố ở nước ta được tiến hành theo nguyên tắc “trực tiếp và bỏ phiếu kín”. Trong đó, bầu cử trực tiếp có nghĩa là cử tri trong thôn, tổ dân phố trực tiếp thể hiện ý chí của mình qua lá phiếu để bầu ra người đứng đầu cộng đồng của mình, để thay mặt và đại diện cho cộng đồng giải quyết những vấn đề liên quan đến đời sống dân cư. Tuy nhiên, nếu như việc bầu trực tiếp khó thực thi thì mô hình thiết thực và hiệu quả hơn là tổ chức việc bầu cử thông qua người đại diện của các cử tri với phương thức ủy quyền. Bởi hoạt động bầu cử trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố không mang tính quyền lực nhà nước nên thực hiện ủy quyền là phù hợp. Điều này có nghĩa là các cử tri, nếu không trực tiếp tham gia bầu cử trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố (vì nhiều lý do), có thể ủy quyền cho cử tri khác trong thôn, tổ dân phố đại diện cho mình để thực hiện hoạt động bầu cử. Như vậy, một người đại diện sẽ có thể được ủy quyền bởi nhiều cử tri. Về mặt pháp lý, sự ủy quyền chỉ được xác lập thông qua hình thức giấy ủy quyền (ủy quyền bằng văn bản)[1] và được chứng thực bởi Ủy ban nhân dân cấp xã[2]. Trong trường hợp này, tỷ lệ phiếu bầu sẽ được tính theo số lượng cử tri đã ủy quyền.

     Thông thường, việc chứng thực giấy ủy quyền sẽ được tiến hành tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã. Tuy nhiên, nếu thực hiện đúng như vậy sẽ khiến cho các cử tri e ngại, sợ mất thời gian nên không thực hiện việc chứng thực. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến công tác tổ chức bầu cử, và do đó, việc bầu cử sẽ bị mất nhiều thời gian. Theo tác giả, trên cơ sở đề xuất của tổ bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp xã cần chủ động, linh hoạt trong việc chứng thực đối với giấy ủy quyền bầu cử của cử tri. Nghĩa là, Ủy ban nhân dân cấp xã có thể cử công chức tư pháp tiến hành chứng thực tại nhà cho các cử tri. Điều này sẽ đảm bảo cho hoạt động bầu cử diễn ra thiết thực và hiệu quả hơn, mới đảm bảo sự thành công của việc lựa chọn người đại diện cho cộng đồng dân cư ở thôn, tổ dân phố.

Ths. Nguyễn Thùy Dương – GV khoa Nhà nước và pháp luật

 

 

[1] Bộ Luật Dân sự năm 2015.

[2] Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch.

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh