Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

80 NĂM SỰ KIỆN LÃNH TỤ NGUYỄN ÁI QUỐC VỀ NƯỚC, TRỰC TIẾP LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG VIỆT NAM- Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ THỜI ĐẠI (28/01/1941- 28/01/2021)
Ngày đăng 27/01/2021 | 2:28 PM  | View count: 90

Mùa xuân năm 1941, sau 30 năm hoạt động ở ngước ngoài, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đây là một sự kiện lịch sử quan trọng, kết thúc chặng đường dài sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, hoạt động sôi nổi, đầy khó khăn, hiểm nguy của Người ở nước ngoài, đồng thời mở ra thời kỳ phát triển mới của cách mạng Việt Nam, thời kỳ chuẩn bị về mọi mặt, tiến tới phát động cao trào Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.

     1. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước, đáp ứng yêu cầu khách quan của thực tiễn cách mạng Việt Nam

     Có thể xem thời điểm Bác về nước là một thời khắc lịch sử vô cùng trọng đại đối với đất nước và dân tộc, trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.

     Đầu năm 1940, tình hình thế giới có nhiều biến chuyển mau chóng. Tháng 6-1940, Đức tấn công nước Pháp, Pháp đầu hàng Đức vô điều kiện. Theo Bác đây là cơ hội tốt để chúng ta giành độc lập cho đất nước. Trước tình hình đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập bộ phận hải ngoại của Đảng ở Vân Nam họp gấp tại trụ sở báo Đ.T[1]. Người nhận định: Lúc này mà chậm trễ là có tội với dân tộc! Tất cả nhất trí với đề nghị gấp rút tìm đường về nước của Người, nhưng ai cũng phân vân là không biết sẽ lấy vũ khí ở đâu để chiến đấu. Người giải thích: Khởi nghĩa thì phải có vũ khí. Đó là một điều rất quan trọng của cách mạng. Nhưng nếu bây giờ có vũ khí thì lấy ai vác vũ khí. Cho nên cứ tìm cách về nước đã, về nước tuyên truyền giác ngộ quần chúng, khi quần chúng đã giác ngộ thì ta sẽ có vũ khí[2].

     Mặt khác, trong bối cảnh khi chiến tranh thế giới lần thứ hai lan rộng, gây ra nhiều tai họa cho nhân loại nhưng lại là cơ hội để ra đời nhiều nước XHCN. Người đánh giá, khi các kẻ thù của dân tộc lao vào cuộc chiến tranh thế giới, tranh giành thuộc địa, xâu xé lẫn nhau thì lực lượng, sức mạnh của chúng ở nước ta tất nhiên sẽ bị suy yếu và đó là cơ hội quý báu cho công cuộc giải phóng của nhân dân Việt Nam.

     Trong khi đó, ở trong nước, tháng 9/1940, Nhật nhảy vào Đông Dương, thực dân Pháp ở Đông Dương đầu hàng phát xít Nhật. Pháp - Nhật cấu kết trong việc áp bức, bóc lột nhân dân Đông Dương. Mâu thuẫn dân tộc càng trở nên gay gắt. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đã phát triển mạnh mẽ và chuyển mạnh sang đấu tranh vũ trang. Những cuộc khởi nghĩa đã nổ ra như: khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ. Tình hình quốc tế và trong nước đang ở giai đoạn khẩn trương. Thời cơ cho cách mạng Đông Dương đang đến gần.

     Về yêu cầu lãnh đạo ở trong nước, đầu năm 1940, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã bị địch bắt, cho tới cuối năm 1940, nhiều đồng chí trong Trung ương cũng bị địch bắt. Trước tình thế đó, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (11/1940, họp tại Đình Bảng, Bắc Ninh), đã cử ra Ban Chấp hành Trung ương lâm thời, đồng chí Trường Chinh được cử làm Quyền Tổng Bí thư của Đảng. Bác về nước trong bối cảnh đó, là đáp ứng yêu cầu cấp thiết kiện toàn lại Ban lãnh đạo Trung ương lâm thời, lãnh đạo phong trào cách mạng và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

      2. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với thắng lợi của Cách mạng t háng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

     Tháng 11-1939, tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 đã khẳng định: Giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Đông Dương. Hội nghị đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cách mạng phản đế và cách mạng điền địa. Hội nghị nhấn mạnh: “Cách mạng phản đế và điền địa là hai cái mấu chốt của cách mạng tư sản dân quyền..., nhưng nó phải ứng dụng một cách khôn khéo thế nào để thực hiện nhiệm vụ chính cốt của cách mạng là đánh đổ đế quốc”. Do đó, Hội nghị quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên nhiệm vụ cách mạng điền địa, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao.

      Về xác định lực lượng và phương pháp cách mạng. Trên cơ sở đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương nhằm đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng nhân dân lao động, các đảng phái, các tầng lớp yêu nước, có chung nguyện vọng độc lập, tự do, chống đế quốc. Trong đó, công nông làm nòng cốt.

     Nếu như Luận cương chính trị tháng 10-1930 còn chưa có một chiến lược đại đoàn kết dân tộc, chỉ nhấn mạnh vai trò của công nông, không tập hợp tiểu tư sản, tư sản dân tộc và trung tiểu địa chủ, thì Hội nghị Trung ương 6 (11-1939) chủ trương đoàn kết mọi lực lượng dân tộc chống đế quốc. Hội nghị bước đầu khắc phục những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10-1930, khẳng định lại những quan điểm đúng đắn trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, phù hợp với Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc.

     Tuy nhiên, tại Hội nghị Trung ương 7 (tháng 11-1940) vẫn nhấn mạnh tính chất của cách mạng Đông Dương giai đoạn này là cuộc cách mạng gồm hai tính chất: phản đế và điền địa. Hội nghị lại nhấn mạnh vấn đề cách mạng điền địa, coi đó là một yếu tố để bảo đảm cho cách mạng thành công. Hội nghị xác định lại mối quan hệ giữa cách mạng phản đế và cách mạng điền địa giống như quan điểm của Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (10-1930): “Cách mạng phản đế và cách mạng thổ địa phải đồng thời tiến, không thể cái làm trước, cái làm sau”, “nếu không làm được cách mạng thổ địa thì cách mạng phản đế khó thành công. Tình thế hiện tại không thay đổi gì tính chất cơ bản của cuộc cách mạng tư sản dân quyền Đông Dương”[3] Như vậy, Hội nghị Trung ương 7 (11/1940) chưa dứt khoát với chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu được đề ra tại Hội nghị Trung ương 6 (11-1939).

     Hội nghị Trung ương 8 do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết của cách mạng Đông Dương. Sau khi phân tích tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị chỉ rõ, trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và phản phong nữa, mà là chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp là “dân tộc giải phóng”, do đó, cách mạng Đông Dương hiện tại là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Trung ương Đảng nhấn mạnh, quyền lợi của nông dân và thợ thuyền phải đặt dưới quyền lợi giải phóng dân tộc của toàn thể nhân dân. Bây giờ nếu nêu khẩu hiệu đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày, chúng ta sẽ bỏ mất một lực lượng đồng minh, một lực lượng hậu thuẫn trong cuộc cách mạng đánh Pháp - Nhật, mà còn đẩy lực lượng ấy về kẻ thù, làm quân dự bị cho kẻ thù. Hội nghị cũng chỉ rõ, Đảng phải chú ý lãnh đạo cuộc tranh đấu chống Pháp - Nhật... Lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới quyền lợi của toàn thể dân tộc.

     Hội nghị chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước ở Đông Dương, nhằm thực hiện quyền dân tộc tự quyết, phát huy sức mạnh mỗi dân tộc trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình, đập tan những thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc của kẻ thù về vấn đề dân tộc, đồng thời tạo điều kiện đoàn kết ba dân tộc chống kẻ thù chung. Hội nghị quyết định thành lập ở mỗi nước một mặt trận riêng. Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh) là mặt trận đoàn kết dân tộc, tập hợp mọi người Việt Nam có lòng yêu nước, thương nòi, chuẩn bị khởi nghĩa.

     Như vậy, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 đã phát triển và hoàn chỉnh các Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 6 và lần thứ 7, về vấn đề giải phóng dân tộc. Đảng ta đã khắc phục những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10-1930, giải quyết tốt mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ phản đế, phản phong, kiên quyết giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đáp ứng nguyện vọng bức thiết nhất của toàn dân. Với sự hoàn chỉnh trong chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng tại Hội nghị Trung ương 8 đã có ý nghĩa quyết định trực tiếp dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

     Theo sáng kiến và đề nghị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất chống Pháp - Nhật lấy tên là Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). Mặt trận Việt Minh chính thức thành lập ngày 19/5/1941 thay cho Mặt trận Thống nhất Dân tộc phản đế Đông Dương. Quan điểm, đường lối mà Trung ương Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đề ra là cơ sở cho tổ chức và hoạt động của Mặt trận Việt Minh, hướng vào mục tiêu cao nhất là giành độc lập dân tộc.

     Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8, ngày 25/10/1941, Mặt trận Việt Minh công bố Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ. Tuyên ngôn của Việt Minh giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, chủ trương: “L iên hiệp các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc giải phóng và sinh tồn[4].

     Chủ trương cứu nước, Mặt trận Việt Minh cũng khẳng định, “Việt Minh chủ trương liên hiệp hết các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể cách mạng, các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương, đặng đánh đổ chủ nghĩa đế quốc, làm cho nước Việt Nam và cả xứ Đông Dương được hoàn toàn độc lập[5].

     Với tinh thần coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh là nơi tập hợp các cá nhân, đoàn thể thành thực muốn đánh đuổi Nhật - Pháp; cũng như sẵn sàng bắt tay với các dân tộc bị áp bức châu Á để thành lập mặt trận liên minh chống đế quốc phát xít.

     Nhờ có chủ trương, chính sách rõ ràng, đúng đắn, Mặt trận Việt Minh đã phát triển nhanh chóng. Phương pháp tổ chức các hội quần chúng của Việt Minh rất linh hoạt, thích hợp từng lúc, từng nơi. Ngoài những đoàn thể có tính chất chính trị cách mạng rõ rệt, như: Nông dân Cứu quốc hội, Thanh niên Cứu quốc hội, Phụ nữ Cứu quốc hội, Nhi đồng Cứu quốc hội, Công nhân Cứu quốc hội, Binh lính Cứu quốc hội,… còn có những đoàn thể như: Hội Tương tế, Hội Hiếu hỉ, Hội Học quốc ngữ, Hội Đọc sách…

     Mặt trận Việt Minh ra đời với chủ trương đoàn kết tập hợp mọi lực lượng vào Mặt trận Dân tộc Thống nhất chống Pháp - Nhật đã góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị lực lượng chính trị và vũ trang cho cách mạng Việt Nam. Với mục tiêu độc lập dân tộc là trên hết, Mặt trận Việt Minh đã trở thành trung tâm tập hợp mọi tầng lớp ở mọi miền Tổ quốc hăng hái tham gia các tổ chức “cứu quốc”, chuẩn bị sẵn sàng để chuyển cách mạng Việt Nam sang thời kỳ cao trào, tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

     Đêm 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp để độc chiếm Đông Dương. Ban Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” phát động cao trào kháng Nhật cứu nước. Tháng 5-1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng tới Tân Trào (Tuyên Quang), cùng Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng, ngày 14 - 15-8-1945 và Đại hội quốc dân họp tại Tân Trào (ngày 16 - 17-8-1945) quyết định Tổng khởi nghĩa trên cả nước. Trong thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa, tháng 8-1945, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Việt Minh tập hợp hàng chục triệu người: “Trong Việt Minh đồng bào ta bắt tay nhau chặt chẽ, không phân biệt trai, gái, già, trẻ, lương, giáo, giàu, nghèo”, “Không phải Nhật bại mà bỗng nhiên ta được giải phóng, tự do. Chúng ta phải ra sức phấn đấu. Chỉ có đoàn kết, phấn đấu, nước ta mới được độc lập[6].

     Mặt trận Việt Minh thông qua hoạt động cách mạng của mình, giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước và đoàn kết thống nhất toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công - nông. Mặt trận Việt Minh đã lôi cuốn, tập hợp quần chúng cả nước đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền, góp phần quyết định vào sự thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Thành công của Mặt trận Việt Minh trong thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho công tác xây dựng Mặt trận, tập hợp lực lượng, đoàn kết dân tộc trong các giai đoạn cách mạng sau này.

     Đối với quốc tế, quyết định của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khi trở về nước cũng là cơ sở quan trọng sau này để Việt Nam củng cố các mối quan hệ với các nước Đồng minh chống lại chủ nghĩa phát xít; cũng như tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của nhiều nước đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nước ta giành thắng lợi trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền và Cách mạng tháng Tám 1945. 

      3. Ý nghĩa lịch sử và thời đại sự kiện Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

     Sự kiện Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam cho thấy tầm nhìn chiến lược của vị lãnh tụ thiên tài, không chỉ tạo ra bước ngoặt to lớn của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX mà còn để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Đó là bài học về xây dựng căn cứ địa cách mạng; bài học về dự báo và nhận định, đánh giá đúng tình hình, xu thế vận động của cách mạng từ đó kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, sách lược cách mạng phù hợp với tình hình thực tiễn đặt ra; bài học về  xác định “thời cơ” và chớp thời cơ cách mạng; bài học về xây dựng thế trận lòng dân, tuyệt đối trung thành, ủng hộ, bảo vệ Đảng và cách mạng thành công; bài học về xác định nhiệm vụ cách mạng; bài học về tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi (Mặt trận Việt Minh); bài học về công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trước sự thay đổi của tình hình. Những bài học này có giá trị và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Việt Nam xã hội chủ nghĩa hôm nay và mãi mai sau.

     Kỷ niệm 80 năm Ngày Bác Hồ trở về nước (28/01/1941 – 28/01/2021) vào thời điểm đang diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đây là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục tôn vinh cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và những cống hiến vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam, với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; từ đó khẳng định ý nghĩa, giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay. Qua đó nhằm giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng, truyền thống lịch sử, thể hiện lòng tự hào, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước; thi đua lập thành tích thiết thực chào mừng thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, đồng thời góp phần sớm đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống.

Thực hiện: Trương Thị Nguyệt -  Giảng viên khoa Xây dựng Đảng

 

 

[1] Ban đầu báo có tên là Đồng Thanh, do đồng chí Phùng Chí Kiên phụ trách, Bác góp ý đổi thành Đ.T, với nhiều ý nghĩa, có thể hiểu là “Đảng ta”, “Đấu tranh” hay “Đánh Tây”. Bác cũng trực tiếp viết nhiều bài đăng báo.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, NXB.Chính trị quốc gia, H.2000, t.7, tr.65-66.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7,  tr. 465.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 470.

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập,  Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.3, tr.595.

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh