Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI LẦN THỨ XIII
Ngày đăng 24/03/2021 | 11:22 AM  | View count: 128

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền là một trong những tư tưởng thể hiện tầm nhìn vượt thời đại và có giá trị lâu bền. Từ những chỉ dẫn quý báu của Người, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã tiếp tục vận dụng đề ra phương hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

     Về khái niệm Nhà nước pháp quyền, Hồ Chí Minh chưa sử dụng chính thức, nhưng trong các tài liệu bài nói, bài viết của Người và các bản Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, cũng như các văn bản pháp luật cụ thể hóa các bản Hiến pháp này do Người trực tiếp soạn thảo đã thể hiện nội dung và yêu cầu khách quan của một nhà nước pháp quyền. Có thể khái quát quan niệm của Hồ Chí Minh về Nhà nước đó như sau:

      Một là, "Nhà nước pháp quyền trước hết phải là một nhà nước hợp pháp và hợp hiến, được nhân dân tổ chức nên thông qua tuyển cử, được xây dựng và hoạt động theo nguyên tắc của Hiến pháp"[1].

     Theo Hồ Chí Minh, tiêu chí đầu tiên của Nhà nước pháp quyền – một Nhà nước mà nhân dân có quyền hưởng tự do, dân chủ chính là Nhà nước đó được tổ chức hợp pháp và hợp hiến. Vì vậy, Người đã chuẩn bị mọi điều kiện để làm được điều đó. Chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính phủ, Người đã đề nghị Chính phủ lâm thời xác lập nền tảng dân chủ và pháp quyền cho chế độ nhà nước cách mạng, đó là tổ chức Tổng tuyển cử và xây dựng Hiến pháp dân chủ. Người nói: "Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai, gái, mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống"[2]

     Sau Tổng tuyển cử, chúng ta đã xây dựng được một Nhà nước hợp pháp do nhân dân tổ chức. Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh làm trưởng ban soạn thảo và xin ý kiến đóng góp của nhân dân cũng đã được Quốc hội khóa I thông qua. Hiến pháp chính là đạo luật có giá trị pháp lý tối cao, khẳng định sự ra đời và tồn tại của nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa là một Nhà nước hợp pháp và hợp hiến. Lần đầu tiên trong lịch sử nước nhà, các quyền dân chủ, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp. Đồng thời cũng là lần đầu tiên tạo ra sự bình đẳng xã hội giữa công dân với Nhà nước và ngược lại.

      Hai là, Nhà nước pháp quyền là Nhà nước quản lý và điều hành xã hội bằng pháp luật.

     Trong quan niệm của Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền thì pháp luật có một vai trò cực kỳ quan trọng. Người đã quan tâm rất sớm đến vai trò của luật pháp trong điều hành và quản lý xã hội vì cho rằng, quản lý xã hội bằng pháp luật là dân chủ, tiến bộ. Năm 1919, trong  Tám yêu sách của nhân dân An Nam  gửi tới Hội nghị Vécxây thì đã có bốn điểm liên quan đến vấn đề pháp quyền. Còn lại liên quan đến công lý và quyền con người. Kể cả trong điều thứ bảy của Việt Nam yêu cầu ca, một dạng chuyển thể của Bản yêu sách, cũng đã thể hiện rõ quan điểm của Người về vấn đề này:

     “Bảy xin hiến pháp ban hành

     Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”.

     Đây là tư tưởng đặc sắc của Hồ Chí Minh, phản ánh cốt lõi của Nhà nước dân chủ mới, khẳng định tầm quan trọng của việc Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, coi pháp luật như một phương tiện để củng cố Nhà nước. Pháp luật chi phối, điều chỉnh mọi quan hệ xã hội, mọi hành vi xã hội, mọi lĩnh vực hoạt động. Mọi người sống, làm việc trên cơ sở pháp luật đảm bảo cho xã hội có trật tự kỷ cương, đồng thời, pháp luật đúng đắn và có hiệu lực trong thực tế sẽ giúp người dân đảm bảo quyền dân chủ của mình. Mặc dù Nhà nước đề ra pháp luật, nhưng Nhà nước cũng phải tuân theo pháp luật.

     Hệ thống pháp luật, theo Hồ Chí Minh, phải là pháp luật dân chủ và bảo vệ quyền lợi cho nhân dân lao động, pháp luật là công cụ cần thiết “để giữ gìn quyền lợi của nhân dân"[3]. và duy trì trật tự xã hội, "Người nào có tội, thì điều tra cho ra, rồi có pháp luật trừng trị"[4]. Trong bài "Đạo đức công dân", Người viết điều đầu tiên thể hiện người có đạo đức công dân chính là "Tuân theo pháp luật Nhà nước"[5].

      Ba là, Nhà nước pháp quyền phải đảm bảo tính nghiêm minh và hiệu lực của pháp luật .

     Theo Hồ Chí Minh, trong Nhà nước pháp quyền, hiệu lực của pháp luật chỉ có được khi mọi người đều nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; mọi hành vi vi phạm pháp luật phải bị xử lý. "Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì"[6].

     Muốn được như vậy, pháp luật phải đúng và đầy đủ, thể hiện sự đồng bộ và có thể điều chỉnh được mọi mặt cơ bản của đời sống xã hội. Trong pháp luật phải thể hiện lợi ích nhu cầu của công dân, hợp với lòng dân. Đồng thời, Nhà nước còn phải tuyên truyền giáo dục pháp luật, làm cho nhân dân hiểu biết pháp luật và thực hiện pháp luật trong đời sống. Theo Người, tuyên truyền, giáo dục pháp luật là một phần việc quan trọng để đảm bảo pháp luật được thực thi có hiệu lực. Trong Bài nói tại Hội nghị cán bộ thảo luận Dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959, Người đã chỉ rõ: " công bố đạo luật này chưa phải đã là mọi việc đều xong, mà còn phải tuyên truyền giáo dục lâu dài mới thực hiện được tốt"[7].

     Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh đòi hỏi người thực thi phải am hiểu luật pháp, vận dụng nhuần nhuyễn luật pháp trong lĩnh vực hoạt động của mình và bản thân họ phải làm gương, mẫu mực thực thi pháp luật trong cuộc sống,"phải nêu cao cái gương "phụng công, thủ pháp, chí công vô tư" cho nhân dân noi theo "[8]. Nếu người thực thi pháp luật không nghiêm, không công tâm, công bằng, không đảm bảo cho pháp luật trở thành cán cân công lý, thì phải bị trừng trị để đảm bảo công bằng và làm cho người dân tin vào pháp luật.

      Bốn là, pháp luật của Nhà nước pháp quyền là pháp luật nhân nghĩa.

     Ngoài việc đề cao tính nghiêm minh và hiệu quả trong thực thi pháp luật, Hồ Chí Minh còn coi trọng cả đạo đức trong pháp luật. Đây là nét đặc sắc nhất trong quan niệm về Nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh. Pháp luật phải thể hiện đạo đức, bảo vệ đạo đức. Pháp luật không phải được xây dựng chỉ là để trừng trị con người mà chính là công cụ bảo vệ, thực hiện lợi ích của con người, điều chỉnh hành vi của con người. Pháp luật góp phần hoàn thiện nhân cách làm người. Nền pháp quyền của ta là một nền pháp quyền hợp đạo đức, có nhân tính, vì nhân dân "Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dầu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ tới đời sống của dân. Phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới"[9].

     Từ tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã vận dụng để đề ra đường lối xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994), khái niệm "Nhà nước pháp quyền" lần đầu tiên được ghi nhận chính thức. Trải qua 5 kỳ Đại hội, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền được bổ sung, phát triển và tổ chức thực hiện. Đến Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta đã đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, trong đó nhận định "Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có mặt chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quản lý đất nước trong tình hình mới". Từ đó, Đại hội đã đề ra Nghị quyết về " Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 – 2030", trong đó điều 10 đề cập đến định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền" như sau:

     "Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức.

     Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội"[10].

     Trong đó những yếu tố về một nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh gọn đã được gắn liền với yêu cầu hiệu lực và hiệu quả hoạt động nhằm đạt được mục đích cuối cùng là phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước.

     Để hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, Nghị quyết Đại hội XIII cũng chỉ rõ nhiệm vụ phải: "Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân"; đồng thời xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh; cải cách tư pháp, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trước hết là sự gương mẫu tuân theo pháp luật, thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội các cấp, của cán bộ, đảng viên"[11].

     Như vậy, Đại hội XIII của Đảng đã vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về điểm cốt lõi của nhà nước pháp quyền dân chủ, đó là xác định nhiệm vụ hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đi đôi với tăng cường, mở rộng quyền làm chủ của nhân dân. Bởi pháp luật càng hoàn thiện thì quyền làm chủ thật sự của nhân dân đối với đất nước càng được đảm bảo. Nhân dân được bảo đảm vai trò làm chủ sẽ có điều kiện phát huy sáng kiến đóng góp vào quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng. Đồng thời, Nhà nước có cơ chế, chính sách để bảo vệ quyền làm chủ ấy của nhân dân, đãi ngộ, khen thưởng những người có đóng góp tích cực, có cơ chế xử lý những người cố tình vi phạm quyền dân chủ hoặc lợi dụng quyền dân chủ để chống phá, làm cản trở quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

     Ngoài ra, Đại hội XIII của Đảng cũng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền để nâng cao hiệu quả công tác cải cách tư pháp. Đây là yêu cầu không thể thiếu để đảm bảo tính nghiêm minh và hiệu lực của pháp luật trong cuộc sống. Bởi vì chỉ có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh thôi chưa đủ, cải cách tư pháp, được đánh giá là có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội đăc biệt là bảo vệ quyền con người, trên cả thể chế và thực tiễn. Pháp chế được tăng cường sẽ đảm bảo việc các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện tiêu cực khác.

     Yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội các cấp, mọi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu tuân theo pháp luật và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng là một trong những nội dung quan trọng được ghi nhận trong Văn kiện Đại hội XIII trên cơ sở vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”[12] và “một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”[13]. Sự gương mẫu trong thi hành pháp luật của các tổ chức trong hệ thống chính trị và của cán bộ, đảng viên vừa là tiền đề, vừa là động lực tăng thêm tính thuyết phục đối với nhân dân trong tự giác thực thi pháp luật.

     Nhờ sự vận dụng đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn trong đấu tranh giành chính quyền và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trong quá trình đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam đúng đắn cho mọi hành động của Đảng ta. Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra được đường lối đúng đắn về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nhưng để đường lối đó đi vào cuộc sống và đạt hiệu quả rõ rệt vẫn luôn cần đến sự quyết tâm và đoàn kết của cả hệ thống chính trị, trong đó không thể thiếu vai trò quản lý của Nhà nước và sự đồng thuận của Nhân dân.

Nguyễn Thị Hải Vân - Khoa Lý luận cơ sở

 

[1] Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình trung cấp lý luận chính trị - hành chính, Những vấn đề cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, HN, 2017, tr. 415

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t.4, tr. 7

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t.8, tr. 265

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t.8, tr. 95

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t.9, tr. 258

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t.6, tr. 127

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t.12, tr. 301

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t.5, tr. 472

[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t.4, tr. 51

[10] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Báo Điện tử Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 26/2/2021

[11] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Báo Điện tử Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 26/2/2021

[12]Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1995, t.1, tr.552 

[13]Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1995, t.5, tr.263

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh