Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH TRONG ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG TA HIỆN NAY
Ngày đăng 02/06/2021 | 10:39 AM  | View count: 231

Kỷ niệm 110 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (05/6/1911-05/6/2021), đây là dịp để chúng ta nhìn lại, tri ân những công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đối với Đảng và dân tộc Việt Nam.

     Là lãnh tụ thiên tài, nhà ngoại giao kiệt xuất, Người đã sáng lập ra nền ngoại giao Việt Nam hiện đại và trực tiếp đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của ngành Ngoại giao Việt Nam. Bác đã chỉ đạo công tác ngoại giao nước nhà vượt qua muôn vàn khó khăn, góp phần giành độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Bác đã để lại cho nền ngoại giao Việt Nam hiện đại một tư tưởng ngoại giao đặc sắc - tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.

     Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khái quát: Toàn bộ những tư tưởng của Hồ Chí Minh về hoạt động ngoại giao như biết đánh giá, dự báo tình hình, nắm bắt thời cơ, tổ chức lực lượng, nhận rõ bạn, thù, tranh thủ đồng minh, cô lập kẻ thù chủ yếu, kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, biết thắng từng bước để tiến tới thắng lợi hoàn toàn, độc lập tự chủ gắn liền với đoàn kết quốc tế, là di sản quý báu đối với chúng ta trong hoạt động ngoại giao để phục vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

     Trong bối cảnh hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong công tác đối ngoại của Đảng càng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao bao gồm một số nội dung cơ bản sau:

     - Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng cốt lõi, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam, đồng thời cũng là cơ sở của đường lối quốc tế đối ngoại và ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta.

     - Độc lập tự chủ gắn liền với đoàn kết quốc tế; tự lực tự cường gắn liền với hợp tác quốc tế là quan hệ biện chứng có tầm quan trọng hàng đầu trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.

     - Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại tạo nên sức mạnh ngoại giao Hồ Chí Minh.

     - Ngoại giao hòa bình, chống chiến tranh phi nghĩa theo truyền thống nhân văn của dân tộc. Trong giải quyết các vấn đề quốc tế nhạy cảm, thực hiện phương châm “Biến đại sự thành tiểu sự, biến tiểu sự thành vô sự”.

     - Tư tưởng “thêm bạn bớt thù”, chủ động, tích cực mở rộng quan hệ quan hệ hợp tác hữu nghị với tất cả các nước trên cơ sở độc lập tự chủ, tôn trọng lẫn nhau, cùng chung sống hòa bình; đặc biệt coi trọng quan hệ thân thiện, hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng, các nước trong khu vực; xử lý đúng đắn mối quan hệ với các nước lớn.

     Như vậy có thể thấy, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh bao hàm những nguyên lý, nội dung, phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao. Người đề cao các quyền dân tộc cơ bản, bao gồm độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, hòa bình và chống chiến tranh xâm lược. Người nhấn mạnh ngoại giao phải luôn luôn vì lợi ích của dân tộc mà phục vụ; độc lập tự chủ, tự lực tự cường phải gắn liền với đoàn kết và hợp tác quốc tế, theo đó Việt Nam sẵn sàng “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” 1. Người hết sức coi trọng tình hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng có chung biên giới; mở rộng bang giao với các nước trong khu vực và trên thế giới; xử lý tốt quan hệ với các nước lớn để phục vụ lợi ích cách mạng.

     Trong phương pháp, Người xác định ngoại giao phải là một mặt trận, một binh chủng hợp thành của cách mạng Việt Nam, kết hợp nhuần nhuyễn “vừa đánh vừa đàm”, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn. Người luôn đặt Việt Nam trong dòng chảy của thế giới, coi trọng các trung tâm quyền lực, các trào lưu lớn. Người đặc biệt đề cao “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, lấy cái không thể thay đổi để ứng phó với muôn sự thay đổi, giữ vững tính nguyên tắc, kiên định, vững chắc của mục tiêu chiến lược với tính linh hoạt, uyển chuyển của sách lược cách mạng. Phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh còn thể hiện truyền thống yêu hòa bình của dân tộc ta, nỗ lực giải quyết bất đồng bằng các phương cách hòa bình.

     Trên nền tảng văn hóa dân tộc, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh thấm đẫm giá trị tinh hoa văn hóa của nhân loại, kết hợp nhuần nhuyễn văn hóa Đông - Tây. Về tư duy, Người căn dặn phải có quan điểm toàn diện, “nhìn cho rộng, suy cho kỹ”, để thấy rõ được xu thế chung và chiều hướng của tiến bộ xã hội. Trong ứng xử, Người kết hợp hài hòa giữa các giá trị dân tộc và quốc tế, làm cho mọi người cảm thấy gần gũi, thân tình. Trong giao tiếp, Người dùng cách thể hiện bình dị để gửi gắm hiệu quả những thông điệp ngoại giao.

     Nét nổi bật trong nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh là sự vận dụng nhuần nhuyễn “năm biết” (biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến), là khả năng tạo dựng thời cơ và chớp thời cơ, là ngoại giao tâm công giúp thu phục lòng người bằng chính nghĩa, tình người, lẽ phải và đạo lý. Những thành tựu của đối ngoại Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ Tổ quốc ta đã thể hiện rõ nét sự tài tình của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng các nghệ thuật ngoại giao để đưa cách mạng đến thành công.

     Thực tiễn đã chứng minh tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là di sản vô giá, là nền tảng sức mạnh và là chìa khóa để triển khai thắng lợi, hiệu quả đường lối đối ngoại của Đảng qua các giai đoạn cách mạng, đặc biệt trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay. Tháng 02/2021, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã thành công rực rỡ. Đại hội đã kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng gắn với việc đánh giá 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới; 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991; 10 năm thực hiên Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020; đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, xác định mục tiêu, phương hướng đến năm 2030 và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045. Đảng ta xác định mục tiêu tổng quát:“Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” 2. Đó chính là sự kết tinh khát vọng phát triển ngàn đời của dân tộc mà nay đang có cơ hội hiện thực hóa dưới sự lãnh đạo của Đảng. 

     Đại hội  cũng đã đánh giá  những thành tựu của công tác đối ngoại: “Quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục mở rộng và đi vào chiều sâu, tạo khung khổ quan hệ ổn định và bền vững với các đối tác. Chủ động tham gia xây dựng các nguyên tắc, chuẩn mực trong các thể chế đa phương khu vực và toàn cầu; xử lý đúng đắn, hiệu quả quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác khác. Đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân được triển khai đồng bộ và toàn diện. Tiếp tục hoàn thiện và thực thi có hiệu quả cơ chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại; tăng cường công tác bảo hộ công dân và công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Hội nhập quốc tế tiếp tục được triển khai chủ động, tích cực, tạo không gian quan hệ rộng mở, tranh thủ được sự hợp tác, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế. Vị thế, uy tín, vai trò của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới ngày càng được nâng cao” 3. Công tác đối ngoại đã sát cánh cùng cả hệ thống chính trị và toàn dân, thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị lớn trong cả nhiệm kỳ qua. 

     Tuy nhiên, công tác đối ngoại trong những năm sắp tới sẽ diễn ra trong bối cảnh mới. Tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối ới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam ngày càng hội nhập quốc tế sâu hơn, rộng hơn với thế giới và khu vực. Do đó, công tác đối ngoại cũng càng trở nên quan trọng và nặng nề, vừa nhằm thích ứng và ứng phó với bối cảnh thế giới và khu vực biến động mạnh, vừa phục vụ những mục tiêu phát triển chiến lược của đất nước thời gian tới.

     Trong bối cảnh đó, Đảng ta khẳng định: Triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện sâu rộng. Để đạt được mục tiêu ấy cần: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đốì tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

     Đồng thời, thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

      Một là, tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đốì ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân.

      Hai là, đẩy mạnh đối ngoại song phương và nâng tầm đối ngoại đa phương.

     - Chủ động tham gia và phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, hợp tác tiểu vùng Mê Kông và các khuôn khổ hợp tác khu vực và quốc tế, trong những vấn đề và các cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể.

     - Coi trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng; chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng cộng đồng đoàn kết, vững mạnh, giữ vững vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực.

     - Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và tăng độ tin cậy.

     - Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc.

     - Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước.

     - Tiếp tục thúc đẩy giải quyết các vấn đề trên biển, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Củng cố đường biên giới hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển; giải quyết các vấn đề còn tồn tại liên quan đến đường biên giới trên bộ với các nước láng giềng.

      Ba là, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia.

     - Gắn kết chặt chẽ quá trình chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp, huy động tiềm năng của toàn xã hội; đổi mới, hoàn thiện thể chế trong nước, nâng cao năng lực tự chủ, cạnh tranh và khả năng thích ứng của đất nưốc.

     - Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực xã hội, môi trường, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa, du lịch và các lĩnh vực khác.

v- Tích cực triển khai các cam kết khu vực và quốc tế, lồng ghép vối các chiến lược, chính sách, kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế - xã hội.

     - Chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế và các hiệp định thương mại đã ký kết.

     - Mở rộng quan hệ và đẩy mạnh hợp tác vối các lực lượng chính trị, xã hội và nhân dân các nước, phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác phát triển và tiến bộ xã hội.

      Bốn là, tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược về đối ngoại, không để bị động, bất ngờ.

     - Đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đối ngoại, bảo hộ công dân, triển khai toàn diện và mạnh mẽ hơn công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

     - Nâng cao bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, phong cách chuyên nghiệp, đổi mới sáng tạo của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; chủ động thích ứng trước chuyển biến của tình hình; tăng cường cơ chế phốỉ hợp chặt chẽ giữa các kênh và các cơ quan đốỉ ngoại, đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.

     Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã đạt được những thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc, giải phóng và thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thành tựu vĩ đại của dân tộc có phần đóng góp không nhỏ của công tác ngoại giao. Ngoại giao Việt Nam đã luôn đồng hành cùng dân tộc trong mọi giai đoạn cách mạng. Ngày nay, trong bối cảnh tình hình mới, nền ngoại giao Việt Nam cần quan triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng, tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao, đi tiên phong kiến tạo môi trường hòa bình, an ninh, ổn định, hợp tác và kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại nhằm phục vụ hiệu quả nhất cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam./

GVC. Nguyễn Thị Ngân -  Phó Trưởng khoa Lý luận cơ sở

Chú thích

1. Hồ Chí Minh,  Toàn tập, NXB CTQG, H.2011, tập 5, trang 256.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. CTQG-ST, tập 1, tr.111-112.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. CTQG-ST, tập 1,tr.69-70.

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh