Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI THƯƠNG BINH, LIỆT SĨ
Ngày đăng 26/07/2021 | 10:46 AM  | View count: 75

Sinh ra và lớn lên trong những năm tháng đất nước bị giặc ngoại xâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc giá trị nhân văn về sự hy sinh của các liệt sỹ, thương binh, bệnh binh đối với đất nước; sự mất mát của những gia đình có người thân nằm lại nơi chiến trường ác liệt và sự hy sinh một phần thân thể của các thương binh, bệnh binh vì sự bình yên cho quê hương và hạnh phúc cho nhân dân.

     Người luôn dành sự quan tâm và tấm lòng tri ân đối với những người đã hy sinh xương máu của mình cho nền độc lập, tự do của dân tộc. Điều đó được thể hiện bằng những hành động và việc làm cụ thể của Người đối với thương binh, liệt sĩ.

     Trước hết , nói về ngày Thương binh, liệt sĩ.

     Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, phát huy đạo lý nhân nghĩa, truyền thống “máu chảy ruột mềm” của dân tộc, chính quyền non trẻ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch đã thực hiện nhiều hình thức góp phần làm dịu nỗi đau mất mát đối với những gia đình có người đã hy sinh như: thành lập Hội giúp binh sĩ bị thương; thay mặt Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 20/SL ngày 16-2-1947 ban hành chế độ hưu, bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ… 

     Tháng 6-1947, tại Phủ Chủ tịch đầu tiên ở “Thủ đô gió ngàn” trên đồi Khau Tý, ATK Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị với Chính phủ chọn một ngày trong năm làm “Ngày Thương binh”. Thực hiện chỉ thị của Người, hội nghị trù bị gồm đại biểu các cơ quan, các ngành ở Trung ương, khối và tỉnh họp ở xã Phú Minh (Đại Từ, Thái Nguyên) bàn bạc, nhất trí, đề nghị lấy ngày 27-7 làm “Ngày Thương binh toàn quốc” bắt đầu từ năm 1947 - nay là “Ngày Thương binh, liệt sĩ”.

Ngày 27/7/1947, tại xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ (Thái Nguyên), ngày Thương binh - Liệt sỹ chính thức được thành lập.

      Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở các thế hệ sau phải nhớ và biết ơn sự hy sinh của các thương binh, liệt sĩ.

     Trong thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thường trực Ban tổ chức "Ngày thương binh toàn quốc" được đăng trên Báo Vệ quốc quân số 11, ra ngày 27 tháng 7 năm 1947, đầu thư Người viết: "Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp. Cha mẹ, anh em, vợ con, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù? Đó là những chiến sĩ mà nay một số đã thành ra thương binh". Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: thương binh là người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí đã chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy.

     Trong Bài phát biểu tại Lễ Kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng (ngày 5-1-1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Ǎn quả phải nhớ người trồng cây”. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta… “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ…”1. Chiến tranh kết thúc, có những người con đã trở về từ trận tuyến, nhưng cũng có không ít những người mãi ra đi, lại có những người đã để lại một phần máu thịt của mình - các anh trở về với những thương tật trên cơ thể vì lý tưởng cách mạng cao đẹp. Sự hy sinh đó là nguồn lực tinh thần quý báu, tiếp thêm sức mạnh để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng. Vì lẽ đó, các thế hệ sau phải luôn ghi nhớ và biết ơn sự hy sinh của các thương binh, liệt sĩ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước viếng các Anh hùng liệt sỹ tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội, ngày 31-12-1954. Ảnh: Tư liệu.

      Thứ ba, sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với thương binh, liệt sĩ bằng những hành động cụ thể

     Trong bộn bề công việc nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện sự quan tâm của mình đối với thương binh, liệt sĩ. Hằng năm, đều đặn cứ vào dịp tháng 7, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại gửi thư thăm hỏi, động viên thương binh, gia đình liệt sỹ, một mặt khẳng định công lao, đóng góp của họ, một mặt động viên họ vượt lên trên mọi khó khăn của bản thân để trở thành những người “tàn nhưng không phế”: “Khi đã khôi phục sức khoẻ, các đồng chí sẽ hăng hái tham gia công tác sản xuất để giúp ích cho Tổ quốc, cũng như các đồng chí đã anh dũng giữ gìn non sông, các đồng chí sẽ trở nên người công dân kiểu mẫu ở hậu phương cũng như các đồng chí đã làm người chiến sĩ kiểu mẫu ở ngoài mặt trận. Tôi cùng đồng bào luôn luôn nhớ đến các đồng chí”1.

     Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn canh cánh trong lòng về việc đền ơn đáp nghĩa với thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ. Tháng 5-1968, mặc dù đang ốm mệt, Người vẫn đọc lại bản thảo Di chúc và viết bổ sung thêm một số nội dung gồm 6 trang viết tay, trong đó có đoạn về thương binh, liệt sĩ và gia đình của họ: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sỹ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong …), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.

     Đối với các liệt sỹ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sỹ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

     Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sỹ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”2.

     Đặc biệt, ngày 31-7-1969, Bác Hồ đã tặng Huy hiệu của Người cho 10 thương binh gương mẫu, tận tụy với công tác sản xuất, lập nhiều thành tích trên mặt trận mới. Đây là lần tặng Huy hiệu cuối cùng của Bác cho các thương binh. Ngày 1-9-1969, một ngày trước khi Người đi xa, Người vẫn gửi vòng hoa viếng các liệt sĩ tại Nghĩa trang Mai Dịch Hà Nội.

     Không chỉ kêu gọi đồng bào quan tâm tới thương binh, liệt sĩ, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng, nói đi đôi với làm, xung phong gương mẫu thực hiện nhiệm vụ đó một cách thiết thực, để toàn dân noi theo một cách tự nguyện. Ngay từ tháng 11-1946, Người đã ra thông báo về việc nhận con các liệt sỹ làm con nuôi. Trong vòng 22 năm (1947 - 1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 14 lần gửi quà, tiền nhân Ngày thương binh, liệt sỹ. Việc làm của Người vừa thiết thực, vừa tạo thành một phong trào xã hội rộng lớn với nhiều hình thức phong phú và vô cùng cảm động đã thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.

     Noi gương Người, các cấp chính quyền và đoàn thể xã hội đã có những chính sách ưu tiên đối với thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ. Đồng bào ta trên khắp mọi miền của Tổ quốc cũng đã làm nhiều việc để đền ơn đáp nghĩa như: tặng quà cho các gia đình chính sách, xây dựng nhà tình nghĩa, lập Quỹ đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng các mẹ Việt Nam Anh hùng, ủng hộ và giúp đỡ các nạn nhân nhiễm chất độc da cam, giúp đỡ thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ, tìm mộ liệt sĩ… Những việc làm đó đã góp phần nâng cao đời sống tinh thần và vật chất, giảm bớt một phần khó khăn trong cuộc sống cho thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ, thể hiện tình cảm, trách nhiệm và bổn phận của toàn xã hội đối với họ - những người đã hy sinh bản thân mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc./.

Người viết: TS. Nguyễn Thị Thu -  Giảng viên Khoa Lý luận cơ sở

 

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H. 2002, t.10, tr.3.

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H. 2002, t.5, tr.471.

2Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H.2009, tr.29-30.

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh