Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

GÓP PHẦN HIỂU ĐÚNG VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Ngày đăng 06/08/2021 | 4:02 PM  | View count: 184

Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, chi phối hoạt động, là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao, đảm bảo lợi ích quốc gia.

     Doanh nghiệp nhà nước được đánh giá có vai trò rất quan trọng cho tăng trưởng kinh tế của đất nước. Các doanh nghiệp này thường đi đầu trong đầu tư vào những vùng khó khăn, những lĩnh vực đầu tư có tỷ suất lợi nhuận thấp, những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư, những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh đóng góp quan trọng trong xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; chúng cũng đóng vai trò chi phối trong một số ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, đặc biệt lĩnh vực tạo lập kết cấu hạ tầng cho tăng trưởng giúp Nhà nước điều tiết, giảm thiểu các tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách và giúp bảo đảm việc làm cho người lao động.

     Bên cạnh những đóng góp đáng ghi nhận thì tổ chức và hoạt động của nhóm doanh nghiệp này cũng còn một số tồn tại: hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước còn hạn chế, chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ; việc cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước và thoái vốn nhà nước triển khai chậm, quá trình cổ phần hoá còn nhiều yếu kém, tiêu cực... Những tồn tại đó đã đặt ra yêu cầu chúng ta phải nhìn nhận lại đặc thù của nhóm doanh nghiệp này để có các biện pháp tác động cho phù hợp.

     Dõi theo hệ thống quy định liên quan tới doanh nghiệp nhà nước có thể thấy quan điểm của các nhà làm luật về đặc thù của loại doanh nghiệp này có nhiều thay đổi trong suốt quá trình từ những năm 1948 đến nay, có thể điểm qua nội dung một số văn bản:

     Sắc lệnh số 104/SL năm 1948 do Chủ tịch Chính phủ ký ban hành là văn bản đầu tiên nhắc tới khái niệm doanh nghiệp quốc gia : “d oanh nghiệp quốc gia là doanh nghiệp thuộc sở hữu quốc gia và do quốc gia điều khiển[1]. Giai đoạn này thành phần kinh tế nhà nước được xem là mũi nhọn của nền kinh tế đất nước.

     Đến Nghị định số 388/HĐBT ngày 20-11-1991 của Hội đồng Bộ trưởng về thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà nước và Luật Doanh nghiệp nhà nước 1995 thì khái niệm doanh nghiệp nhà nước bắt đầu xuất hiện và được hiểu “là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao[2] .

     Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003, tại Điều 1 quy định: “d oanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”. Lúc này, quan niệm về doanh nghiệp nhà nước được hiểu rộng hơn, không chỉ doanh nghiệp có 100% sở hữu nhà nước mà gồm cả doanh nghiệp mà Nhà nước nắm cổ phần hay có phần góp vốn chi phối.

     Tới Luật Doanh nghiệp 2005: “d oanh nghiệp n hà nước được xác định là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ[3]. Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp 2005 đánh dấu bước ngoặt trong tư duy lập pháp, văn bản này điều chỉnh chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp xóa bỏ ranh giới giữa doanh nghiệp nhà nước với các doanh nghiệp khác tạo cơ chế bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp trên thị trường, xóa bỏ ranh giới giữa khu vực kinh tế Nhà nước với khu vực kinh tế tư nhân.

     Ngày 26-11-2014 Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) được Quốc hội thông qua, theo quy định tại khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 thì doanh nghiệp nhà nước “là các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ ”. Đến Luật Doanh nghiệp 2014 thì doanh nghiệp nhà nước đã bị thu hẹp lại rất nhiều so với trước đây. Sự thay đổi này được xem là sự cải cách về quan điểm để dẫn đến thay đổi về vốn và quản trị và thiết lập một “sân chơi” bình đẳng giữa các doanh nghiệp.

     Sau đó, Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03-6-2017 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước đã định hướng: “d oanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc cổ phần, vốn góp chi phối; được tổ chức và hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn”.

     Đến Luật Doanh nghiệp 2020 quy định rõ:“d oanh nghiệp nhà nước  bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết [4]. Theo đó, doanh nghệp nhà nước bao gồm hai nhóm: (1) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; (2) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% và dưới 100% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Đối chiếu với Điều 17.1 Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Điều 11.1 Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), cách tiếp cận này được đánh giá phù hợp với thông lệ quốc tế và các cam kết mà Việt Nam tham gia. Những quy định này sẽ giúp loại bỏ những sự phân biệt đối xử, ưu ái hay quyền miễn trừ của Nhà nước dành cho các doanh nghiệp nhà nước phải bị loại bỏ. Thay vào đó là nghĩa vụ minh bạch thông tin và cơ chế giám sát doanh nghiệp Nhà nước trong hoạt động hỗ trợ thương mại và phi thương mại sẽ được thực thi để hạn chế sự phân biệt đối xử, tăng cường tính minh bạch.

     Với quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp nhà nước không phải là một loại hình doanh nghiệp riêng trong Luật Doanh nghiệp mà các doanh nghiệp này sẽ được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, bao gồm:

     (1) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ bao gồm:

     - Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con;

     - Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

     (2) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết bao gồm:

     - Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con;

     - Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

     Như vậy, Luật Doanh nghiệp 2020 đã sửa đổi khái niệm doanh nghiệp nhà nước (trên cơ sở thể chế hóa chủ trương về tỉ lệ cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước theo Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03-6-2017 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước) theo nguyên tắc phân chia các loại doanh nghiệp có sở hữu nhà nước theo mức độ khác nhau, mỗi loại hình doanh nghiệp có quy định về tổ chức quản trị phù hợp. Ví dụ: Nếu tỉ lệ vốn góp của Nhà nước trên 65% vốn điều lệ, thì Nhà nước sẽ có quyền chi phối tuyệt đối; quyết định tất cả các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp; còn Nhà nước góp trên 50% vốn điều lệ thì Nhà nước có quyền chi phối và quyết định phần lớn các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp. Một trong các nhầm lẫn thường gặp cần lưu ý trong quá trình xác định doanh nghiệp nhà nước đó là các công ty con của các doanh nghiệp Nhà nước (là tập đoàn kinh tế Nhà nước, tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con) không phải là doanh nghiệp nhà nước.[5]

     Việc phân chia các loại doanh nghiệp có sở hữu nhà nước theo mức độ khác nhau với mô hình tổ chức quản trị phù hợp để nâng cao hiệu lực quản trị, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, bảo đảm bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03-6-2017 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước khẳng định: “doanh nghiệp nhà nước là công cụ quan trọng để bảo đảm thực hiện có hiệu quả các chính sách ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đối phó với những biến động thị trường; tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước; đóng góp quan trọng trong xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và chính sách an sinh xã hội ,... là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội..”. Qua quá trình vận động và phát triển của nền kinh tế, các cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước khiến cho các quy chế pháp lý liên quan đển doanh nghiệp nhà nước có nhiều thay đổi. Việc làm rõ tiêu chí xác định doanh nghiệp Nhà nước trong từng giai đoạn sẽ làm cơ sở xác định mô hình tổ chức, cách thức hoạt động quản lý của các doanh nghiêp cũng như cách thức quản lý của cơ quan chức năng đối với doanh nghiệp Nhà nước so với các thành phần kinh tế khác cho phù hợp/./

ThS Bùi Thái Hà -  Giảng viên khoa Nhà nước và pháp luật

 

[1] Điều 2 Sắc lệnh số 104/SL của Chủ tịch Chính phủ năm 1948

[2] Điều 1 Luật Doanh nghiệp nhà nước 1995

[3] Khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005

[4] Khoản 11 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020

[5] Khoản 5, khoản 6 Điều 4 của Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 của Chính phủ

“...5. Vốn của Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp khác là vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do cơ quan đại diện chủ sở hữu làm chủ sở hữu phần vốn góp.

6. Vốn của doanh nghiệp nhà nước đầu tư ra ngoài doanh nghiệp là vốn của doanh nghiệp nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và các hình thức đầu tư khác theo quy định của pháp luật.”

 

 

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh