Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

THỰC HIỆN SẢN XUẤT VÀ TIÊU DÙNG BỀN VỮNG XU HƯỚNG, TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆT NAM
Ngày đăng 06/08/2021 | 4:24 PM  | View count: 316

Sản xuất và tiêu dùng bền vững là hai khâu chốt yếu của tái sản xuất xã hội quyết định tính bền vững của tăng trưởng kinh tế ở mọi quốc gia, là một trong những phương thức hiệu quả nhất để đạt được sự cân bằng các lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường. Sản xuất và tiêu dùng bền vững là mô hình mà các nước trên thế giới đang áp dụng phổ biến, cũng là một trong những chủ trương lớn, mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng hướng tới phát triển bền vững Việt Nam trong tương lai.

1. Xu hướng lựa chọn sản xuất và tiêu dùng bền vững

     * Về lý luận

Sản xuất và tiêu dùng bền vững (SCP) là việc sử dụng các dịch vụ và sản phẩm có liên quan để đáp ứng các nhu cầu cơ bản và mang lại một cuộc sống tốt hơn, đồng thời giảm thiểu sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguyên liệu độc hại cũng như giảm thiểu phát thải trong suốt vòng đời sản phẩm, sao cho không làm tổn hại đến việc thoả mãn các nhu cầu của các thế hệ tương lai (UNEP, 2012).

     Ở Việt Nam, phần lớn người tiêu dùng sẵn sàng chi trả nhiều hơn để mua các sản phẩm có thương hiệu “xanh” và “sạch”, đảm bảo thân thiện với môi trường. Xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng đó, thay vì quá lạm dụng trong việc sử dụng hóa chất, trong đó có hóa chất độc hại trong sản xuất, chế biến, bảo quản thì xu hướng sản xuất sản phẩm sạch, an toàn, sản xuất hữu cơ ngày càng được phát triển.

     Sản xuất và tiêu dùng bền vững đảm bảo phát triển kinh tế hướng tới tăng trưởng xanh, tiêu dùng sạch, nâng cao chất lượng cuộc sống mà không tổn hại đến nhu cầu về nguồn lực của các thế hệ tương lai. Cung cấp các cơ hội tạo ra thị trường mới với việc làm phù hợp. Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên và năng lượng, tiết kiệm nguyên, nhiên vật liệu. Sản xuất, tiêu dùng bền vững cũng là lựa chọn tất yếu khách quan trong bối cảnh đại dịch Covid-19 nhằm tăng trưởng kinh tế toàn diện, giảm tác động từ biến đổi khí hậu, hài hòa phát triển kinh tế - xã hội với phục hồi, bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên.

     Sản xuất và tiêu dùng bền vững là mắt xích không thể thiếu trong phát triển bền vững. Chương trình Nghị sự 2030 về Phát triển bền vững của thế giới giai đoạn 2015-2030, đề ra 17 mục tiêu, trong đó mục tiêu số 12 về sản xuất và tiêu dùng bền vững nhằm mục đích tạo ra các thay đổi căn bản trong xã hội về sản xuất và tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ. Vậy nên, thay đổi mẫu hình sản xuất và tiêu dùng là tất yếu, là trách nhiệm đảm bảo sự phát triển lâu dài và bền vững trong tương lai.

      - Về thực tiễn

     Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều nỗ lực và thành quả trong quá trình sản xuất, tiêu dùng bền vững:

     + Tích cực tham gia các hoạt động về sản xuất và tiêu dùng bền vững cấp khu vực. Ký kết Tuyên ngôn quốc tế về sản xuất sạch hơn ngay từ năm 1999.

     + Ban hành nhiều chương trình, kế hoạch, mục tiêu cụ thể.

Năm 1998, Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam được thành lập. Năm 2002, Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về sản xuất sạch hơn. Quyết định số 76/QĐ-TTg, ngày 11/1/2016 về Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Quyết định Số 889/QĐ-TTg, ngày 24/6/2020 phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021-2030, mục tiêu tổng quát: Thúc đẩy quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên, nhiên liệu, nguyên vật liệu, khuyến khích phát triển  c ác  n guồn tài nguyên, nhiên liệu, nguyên vật liệu và sản phẩm thân thiện môi trường, có thể tái tạo, tái sử dụng và tái chế; thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững trên nền tảng đổi mới, sáng tạo, thực hành và phát triển các mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững, đẩy mạnh sản xuất và tiêu dùng nội địa bền vững, tạo việc làm ổn định và việc làm xanh, thúc đẩy lối sống bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, hướng đến phát triển nền kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam.

     + Đạt thành tựu đáng kể trong sản xuất và tiêu dùng bền vững.

Việt Nam tương đối nhạy bén với các xu hướng sản xuất và tiêu dùng bền vững mới như mua sắm công xanh, xanh hóa chuỗi cung ứng, và tiếp thị bền vững… Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đến nay, 63/63 tỉnh, thành đã xây dựng mô hình chuỗi cung ứng với 1.249 chuỗi, 1.450 sản phẩm, và 3.181 điểm bán hàng với các sản phẩm được kiểm soát trong chuỗi. Các sản phẩm trên thị trường được dán tem thông tin về tiêu chuẩn được áp dụng (VietGAP, phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn HACCP, yêu cầu an toàn thực phẩm) và các thông tin về nguồn gốc xuất sứ. Triển khai các chương trình liên quan đến sản phẩm xanh như: cấp nhãn sinh thái, nhãn tiết kiệm năng lượng,… Nhiều địa phương đã thực hiện các hoạt động để thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả như Hà Nội giai đoạn 2016-2020 đã tiết kiệm 1.124 kTOE. Toàn quốc đã thực hiện các hoạt động tuyên truyền, phổ biến để nâng cao nhận thức về việc thực hiện các giải pháp xanh hóa hệ thống phân phối, siêu thị, trung tâm thương mại và chợ dân sinh, hạn chế, thay thế sử dụng bao bì khó phân hủy nhằm giảm thiểu xả rác trong các hoạt động phân phối....

      2. Trách nhiệm thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững ở Việt Nam

      - Đối với Chính phủ, Bộ, ngành, chính quyền địa phương

      + Xây dựng, ban hành khung pháp lý, chính sách (chính sách khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư sản xuất các sản phẩm, dịch vụ thân thiện môi trường; chính sách mua sắm công xanh, phát triển kênh phân phối, chuỗi cung ứng bền vững, chính sách thuế, thương mại quốc tế…)..

     + Lồng ghép các nội dung, hoạt động sản xuất và tiêu dùng bền vững trong các chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển quốc gia, ngành và địa phương.

     + Đảm bảo tài chính bằng việc rà soát và đánh giá lại các khoản chi tiêu của nhà nước và tư nhân về sản xuất và tiêu dùng bền vững để xác định và khắc phục các tồn đọng. Hỗ trợ về mặt tài chính, thuế đối với các doanh nghiệp thực hiện các chương trình xanh hay tăng cường quảng bá những sản phẩm thân thiện, tiết kiệm năng lượng. Mở rộng nguồn kinh phí từ doanh nghiệp, tổ chức, viện trợ.

     + Xây dựng mô hình kinh tế tuần hoàn trong sản xuất, tiêu dùng hướng đến mô hình kinh doanh phi rác thải. Đẩy mạnh liên kết giữa các nhà cung cấp nguyên liệu - nhà sản xuất - nhà phân phối - người tiêu dùng.

     + Quản lý, khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, tăng cường áp dụng các công cụ kinh tế, hành chính theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”.

     + Xây dựng chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm, phát triển và ứng dụng công nghệ hiện đại.

     + Xây dựng chương trình kết nối hợp tác bền vững giữa doanh nghiệp, tổ chức trong nước với quốc tế phù hợp quy định, cam kết hội nhập quốc tế.

     + Tăng cường giáo dục truyền thông thay đổi thói quen, nâng cao nhận thức của người sản xuất, tiêu dùng bắt kịp với xu thế của thế giới bằng các chương trình đào tạo trong và ngoài nước.

      - Đối với doanh nghiệp, tổ chức sản xuất

     + Cải thiện quá trình sản xuất trên cơ sở đổi mới thường xuyên quy trình, kỹ thuật, kiểm soát ô nhiễm môi trường trong ứng dụng công nghệ sản xuất.

     + Áp dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng, công nghệ mới, bố trí và vận hành máy móc, thiết bị sản xuất hợp lý hơn để tiết giảm mức tiêu hao năng lượng.

     + Xây dựng mẫu hình sản xuất bền vững qua thực hành sản xuất sạch, thiết kế sản phẩm bền vững, sản xuất các sản phẩm thông minh, không chất thải, sản phẩm xanh, sản phẩm có thể quay vòng, sử dụng lại…đảm bảo tiêu chuẩn nhãn sinh thái (Nông nghiệp hữu cơ; Viet GAP, Global GAP; chứng chỉ bền vững trong sản xuất nông nghiệp: MSC, SFC), tiêu chuẩn nhãn xanh, nhãn năng lượng, nhãn cacbon, nhãn tái chế…

     + Kết nối mạng lưới sản xuất và tiêu dùng bền vững hình thành liên kết chuỗi từ khâu sản xuất đến phân phối, tiêu dùng các sản phẩm, phấn đấu 100% doanh nghiệp tham gia chuỗi sản xuất, cung ứng nông sản, thực phẩm an toàn.

     + Tập trung đầu tư nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ xanh gồm: công nghệ năng lượng xanh, vật liệu và xây dựng, cơ khí giao thông vận tải, công nghệ nông, lâm, sinh học, hóa học xanh, xử lý chất thải.

     + Nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong sản xuất và cung cấp thực phẩm bằng việc thực hiện “chịu trách nhiệm đến cùng” từ khâu sản xuất đến thu gom lại các sản phẩm sau khi sử dụng.

      - Đối với người tiêu dùng

     + Thay đổi hành vi tiêu dùng bằng thực hiện “mua sắm xanh” tức là xem xét, cân nhắc những tiêu chí về giá cả và hiệu quả sử dụng khi quyết định mua sắm, sao cho giảm thiểu được nhiều nhất tác động tới sức khoẻ và môi trường.

     + Thực hành lối sống bền vững bằng thay đổi thói quen hàng ngày như đi lại, chế độ ăn uống và mua sắm để cùng đạt được mục tiêu "không rác thải". Hưởng ứng phong trào sống xanh, giảm tỷ lệ bao bì khó phân hủy tại các chợ dân sinh, sử dụng lá chuối gói rau củ, thực phẩm thay túi nylon; sử dụng, phân phối các sản phẩm bao bì thân thiện môi trường…

      - Đối với cộng đồng xã hội

     Sản xuất và tiêu dùng bền vững không thể đạt mục tiêu bởi một cá nhân hay tổ chức mà phải trên cơ sở sự tham gia, đóng góp của toàn xã hội. Cần: Thống nhất nhận thức và hành động trong tất cả các cấp, các ngành và toàn xã hội về phát triển bền vững; Chung tay, góp sức thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021-2030; Kiên quyết đấu tranh với các hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng như quảng cáo sai sự thật, cũng cấp hàng hóa kém chất lượng, lợi dụng dịch bệnh đầu cơ trục lợi, nâng giá.

     Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh, hoàn thiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có nhiều yêu cầu trong nâng cao trình độ, sử dụng, khai thác tài nguyên, cần có những giải pháp, bước đi cụ thể, tích cực để thay đổi mô hình sản xuất và tiêu thụ theo hướng bền vững, thân thiện môi trường. Chính phủ, các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân cần nâng cao trách nhiệm hơn nữa vì sự phát triển bền vững của quốc gia.

Nguyễn Bích Hạnh - GV Khoa NNPL

Tài liệu tham khảo

1. Liên hợp quốc, Chương trình nghị sự Phát triển bền vững đến năm 2030, ngày 25/9/2015.

2. Chính phủ, Nghị quyết số 136/NQ-CP, ngày 25/9/2020 Phát triển bền vững.

3. Chính phủ, Quyết định số 76/QĐ-TTg, ngày 11/1/2016, Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

4. Chính phủ, Quyết định Số 889/QĐ-TTg, ngày 24/6/2020, Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021-2030.

5. Bộ Công Thương, Hội nghị Tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020 và  Lễ phát động Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021-2030, ngày 20/11/2020.

6. Thống kê Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2018.

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh