Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

VAI TRÒ CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP TRONG CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ (1954)
Ngày đăng 16/08/2021 | 11:36 AM  | View count: 712

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911 ở làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà nho nghèo, giàu lòng yêu nước.

     Hồi còn nhỏ, Võ Nguyên Giáp theo cha học Nho giáo, mới học xong lớp 3, cậu bé Võ Nguyên Giáp đã phải rời xa gia đình để xuống thị xã Đồng Hới học tiểu học. Năm  1925 , Võ Nguyên Giáp rời trường Tiểu học Đồng Hới vào  Huế  ôn thi vào trường  Quốc học Huế . Năm  1927 , ông bị đuổi học do tham gia bãi khóa nên về quê và cùng thời gian này ông tham gia  Tân Việt Cách mạng Đảng . Trong thời gian này, ông đã nghiên cứu tài liệu về “Liên đoàn các dân tộc bị áp bức trên thế giới” và một số văn kiện cuộc họp của  Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội  ở Quảng Châu, trong đó có hai bài phát biểu của lãnh tụ  Nguyễn Ái Quốc . Đó là sợi dây đầu tiên nối liền số mệnh và cũng là định mệnh của Võ Nguyên Giáp với Hồ Chí Minh và sự nghiệp Cách mạng Việt Nam. Năm 1928, ông vào làm việc cho một nhà xuất bản của Đảng Tân Việt. Tháng 10/1930, ông bị Pháp bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ. Cuối năm 1931, ông được trả tự do và bị Pháp trục xuất khỏi Huế. Sau đó, ông ra Hà Nội học và lấy bằng cử nhân Luật năm 1937 tại trường Albert Sarraut. Từ năm 1936-1939, ông tham gia Phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Tháng 5 / 1939 , Võ Nguyên Giáp tham gia dạy môn  lịch sử  tại  Trường Tư thục Thăng Long Hà Nội  do  Hoàng Minh Giám  làm  Giám đốc  nhà trường.

      Tháng 5/ 1940 , Võ Nguyên Giáp với bí danh là Dương Hoài Nam cùng  Phạm Văn Đồng  lên  Lào Cai  rồi vượt biên sang Thúy Hồ, Trung Quốc  để gặp  lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Cũng trong năm 1940, ông gia nhập  Đảng Cộng sản Đông Dương và hoạt động trong  Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh).

      Cuối năm 1944, Bác Hồ tin tưởng giao cho Võ Nguyên Giáp chọn lựa những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất với những vũ khí tốt nhất, lập thành một đội vũ trang mang tên là “Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân” gồm 34 người được trang bị 2  súng thập  (một loại  súng ngắn ), 17  súng trường , 14  súng kíp  và 1  súng máy . Đây là tổ chức tiền thân của  Quân đội nhân dân Việt Nam . Bác đã nói: “Việc quân sự thì giao cho chú Văn”  [1]  (Văn là bí danh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp). Sau một thời gian chuẩn bị, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập vào ngày 22/12/1944, tại một khu rừng ở châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Sau này, khu rừng ấy được đặt tên là khu rừng Trần Hưng Đạo. Ngày  25/12 / 1944 , ông đã chỉ huy đội quân này lập chiến công đầu tiên là tập kích  diệt gọn hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần .

      Ngày  19/12 / 1946 , toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh , Võ Nguyên Giáp bắt đầu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang gian khổ kéo dài 9 năm chống lại sự tái chiếm của quân Pháp ( 1945 - 1954 ) trên cương vị Tổng Tư lệnh Quân đội  kiêm Bí thư  Quân uỷ Trung ương. Ngày 20/01/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 110 phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp.

      Cuối năm  1953 Chiến tranh Đông Dương  đã kéo dài 8 năm, quân Pháp lâm vào thế bị động và ngày càng lún sâu vào thất bại trên hầu khắp các chiến trường. Để cứu vãn tình thế, bước vào Thu - Đông năm 1953, thực dân Pháp có sự trợ giúp, can thiệp Mỹ đã cho ra đời Kế hoạch Nava tăng viện lớn về binh lực và chi phí chiến tranh, mưu toan trong vòng 18 tháng sẽ tiêu diệt phần lớn bộ đội chủ lực của ta, kiểm soát lãnh thổ Việt Nam và bình định cả Nam Đông Dưong. Kế hoạch Nava là kế hoạch chung, là nỗ lực cuối cùng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ nhằm giành lại thế chủ động có tính quyết định về quân sự trên chiến trường, làm cơ sở cho một giải pháp chính trị có lợi cho chúng.

     Điện Biên Phủ là cứ điểm có ý nghĩa chiến lược khống chế cả một vùng rộng lớn của Tây Bắc và Thượng Lào. Tuy là kế hoạch nằm ngoài dự kiến ban đầu của Kế hoạch Nava của Pháp và Mỹ, nhưng các tướng lĩnh Pháp và Mỹ đã liên tiếp cho tăng cường lực lượng, xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương. Địch đã cho tập trung ở đây lúc đông nhất lên đến 16.200 quân gồm 21 tiểu đoàn trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội không quân, 1 đại đội vận tải cơ giới. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được bố trí thành 3 phân khu Bắc, Trung, Nam với 40 cứ điểm, huy động toàn bộ lính dù và 40% lực lượng cơ động tinh nhuệ nhất của Pháp ở Đông Dương; hệ thống hoả lực mặt đất khá mạnh với 2 tiểu đoàn pháo 105mm, 1 đại đội pháo 155mm, 1 đại đội súng cối 120mm được bố trí ở Mường Thanh và Hồng Cúm; hai sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm với gần 100 lần chiếc lên, xuống mỗi ngày có thể vận chuyển khoảng 200 đến 300 tấn hàng và thả dù từ 100 đến 150 tên địch, đảm bảo nguồn tiếp viện cho quân Pháp trong quá trình tác chiến. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là tập đoàn cứ điểm phòng ngự mạnh nhất của Pháp ở Đông Dương lúc bấy giờ với hệ thống boongke và dây thép gai tạo thành các vòng vây chắc chắn. Nava coi Điện Biên Phủ như “một pháo đài không thể công phá”  [2], là cỗ máy nghiền nát bộ đội chủ lực của Việt Minh, là nơi thu hút để tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta. Điện Biên Phủ đã trở thành quyết chiến điểm của Kế hoạch Nava.

     Ngay sau khi địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ và xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh nhất ở chiến trường Đông Dương, ngày 6/12/1953, sau khi nghe Tổng Quân ủy báo cáo, Bộ Chính trị nhận định: “Điện Biên Phủ là tập đoàn cứ điểm mạnh nhưng chỗ yếu cơ bản của địch là bị cô lập. Về phía ta, Điện Biên Phủ là một trận công kiên lớn nhất từ trước tới nay; diễn ra trên địa bàn rừng núi hiểm trở, đường cơ động cho pháo khó khăn, thời gian chuẩn bị cho chiến dịch gấp, nhưng có ý nghĩa quân sự, chính trị và ngoại giao rất quan trọng. Khó khăn lớn nhất của ta là vấn đề cung cấp hậu cần. Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và thông qua phương châm chiến dịch, trong thời gian đầu, khi quân địch mới nhảy dù xuống, lực lượng chưa được tăng cường, bố trí còn sơ hở, trận địa phòng ngự chưa được củng cố, ta có dự kiến tranh thủ thời gian, lợi dụng những cơ sở của địch để “đánh nhanh giải quyết nhanh[3].

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các đồng chí lãnh đạo Đảng,

Nhà nước họp bàn mở chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. (Ảnh tư liệu: TTXVN)

     Thực hiện quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ, bộ phận tham mưu của ta và đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc đi trước để chuẩn bị chiến trường đã đề nghị phương án “Đánh nhanh, thắng nhanh” nhằm tranh thủ địch vừa tăng cường lực lượng, đứng chân chưa vững, ta tập trung lực lượng tiến công tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ trong “3 đêm 2 ngày”. Đại tướng Vi Quốc Thanh - Trưởng phái đoàn quân sự Trung Quốc khuyên ta: “Nếu không đánh sớm, nay mai địch tăng cường thêm quân và củng cố công sự thì cuối cùng không còn điều kiện công kích quân địch nữa[4].

     Trước khi lên đường ra mặt trận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến chào Bác Hồ. Bác hỏi Đại tướng: “Chú đi xa như vậy, chỉ đạo các chiến trường, có gì trở ngại không?[5]. Đại tướng ngập ngừng trả lời: “Chỉ trở ngại là ở xa có vấn đề quan trọng và cấp thiết, khó xin ý kiến của Bác và Bộ chính trị[6]. Nghe vậy, Bác nói với Đại tướng: “Tổng tư lệnh ra mặt trận, tướng quân tại ngoại. Trao cho chú toàn quyền. Có vấn đề gì khó khăn bàn thống nhất trong Đảng ủy, thống nhất với cố vấn thì cứ quyết định, rồi báo cáo sau[7]. Chia tay Đại tướng, Bác Hồ căn dặn: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh[8]. Thực sự đây là vinh dự lớn lao, đồng thời là trách nhiệm hết sức nặng nề của Đại tướng đối với Đảng, nhân dân và quân đội ta.

     Mọi công việc chuẩn bị cả về vật chất và tinh thần cho trận đánh được triển khai theo phương án “Đánh nhanh, thắng nhanh” đã hoàn tất. Sau nhiều ngày khảo sát thực địa, Đại tướng nhận thấy địch không ngừng củng cố công sự ngày càng vững chắc, không còn ở thế phòng ngự dã chiến như ban đầu. Về phía ta, Đại tướng cho rằng ta có 3 khó khăn nổi lên. Một là: Bộ đội chủ lực của ta đến nay chỉ tiêu diệt cao nhất là tiểu đoàn địch tăng cường có công sự vững chắc, nhưng cũng có những trận không thành công, bộ đội thương vong nhiều. Hai là: Trận này tuy ta không có máy bay, xe tăng, nhưng đánh hiệp đồng binh chủng bộ binh - pháo binh với quy mô lớn đầu tiên mà lại chưa qua diễn tập. Ba là: Bộ đội ta từ trước tới nay chỉ quen tác chiến ban đêm, chủ lực của ta chưa có kinh nghiệm tấn công ban ngày trên địa bàn bằng phẳng với kẻ địch có ưu thế về máy bay, pháo binh, xe tăng.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp quan sát thực địa chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954

(Ảnh tư liệu: TTXVN)

     Mặc dù mấy vạn quân đã dàn trận, đạn đã lên nòng, sẵn sàng “dội lửa” lên đầu kẻ thù vào 17 giờ ngày 25/01/1954 như kế hoạch đã định. Nhưng Đại tướng quyết định dừng lại cho lui quân về vị trí tập kết, pháo đã kéo vào nay lại kéo ra để chuẩn bị trận địa đánh theo phương án mới. Sáng 26/01/1954, trao đổi với Đại tướng Vi Quốc Thanh - Trưởng phái đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc về quyết định của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: Ý định của tôi là hoãn cuộc tấn công ngay buổi chiều nay, thu quân về vị trí tập kết, chuẩn bị lại theo phương châm “Đánh chắc, tiến chắc”. Với trách nhiệm trước Đảng, trước lời căn dặn của Bác Hồ và nhất là trách nhiệm trước sinh mệnh của cán bộ, chiến sỹ trên chiến trường, sau 11 ngày đêm theo dõi, suy nghĩ và tính toán, với nhãn quan thiên tài quân sự, với bản lĩnh và kinh nghiệm, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đi đến kết luận: Đánh theo cách này nhất định thất bại và quyết định chuyển sang phương châm “Đánh chắc, tiến chắc”. Với cách đánh này, quân ta sẽ đánh dần từng bước, tiêu diệt từng bộ phận quân địch theo lối “bóc vỏ”, dồn địch vào tình thế ngày càng bị động, khốn quẫn để tiêu diệt chúng.

     Quyết định thay đổi phương châm và kế hoạch đã được triển khai, sau đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo về Trung ương Đảng bằng thư hỏa tốc. Quyết định của Đại tướng được Bác Hồ và Bộ Chính trị nhất trí và tiếp tục động viên hậu phương đem toàn lực chi viện cho tiền tuyến đánh thắng. Thay đổi phương châm tác chiến từ phương châm: “Đánh nhanh, thắng nhanh” sang phương châm “Đánh chắc, tiến chắc” là một “quyết định lịch sử” của một vị tướng tài năng quân sự kiệt xuất, giàu bản lĩnh, kinh nghiệm, đầy bản chất nhân văn và trên cơ sở khách quan. Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp “Đó là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của tôi[9]. Nhưng đây là quyết định sáng suốt và là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi cuộc chiến tranh. Đánh giá về quyết định lịch sử này, tướng Lê Trọng Tấn, trong dịp kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên, nói: “Nếu không có quyết định chuyển phương châm ngày đó thì phần lớn chúng tôi sẽ không có mặt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ[10]. Còn tướng Vương Thừa Vũ nhận xét: “Nếu theo cách đánh cũ, thì cuộc kháng chiến chống Pháp có thể bị kéo dài thêm tới 10 năm[11]. Trong tác phẩm “Võ Nguyên Giáp, một sự đánh giá”, nhà nghiên cứu lịch sử quân sự Peter MacDonald (người Anh) đã viết: “Điều làm Điện Biên Phủ nổi tiếng chính là ở cách đánh, ở tiến trình phát triển cuộc chiến cũng như kết cục và những hệ quả mà nó dẫn đến... Tất cả những điều đó đã khiến Điện Biên Phủ trở thành trận đánh quyết định của mọi thời đại và đưa tên tuổi Võ Nguyên Giáp vào sử sách”.

     Và sự thực lịch sử là minh chứng hùng hồn cho quyết định lịch sử của Đại tướng. Chiều 13/3/1954 quân ta mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ, trải qua 3 đợt tấn công với tổng cộng “Năm mưới sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt. Máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn![12] quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Bác Hồ và cá nhân Đại tướng đã “Chín năm làm một Điện Biên. Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng…[13]. Các lực lượng vũ trang của ta đã tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tướng ĐơCaxtơri và Bộ Chỉ huy tập đoàn cứ điểm bị quân ta bắt sống.

     Thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, đã góp phần quyết định đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hòa bình, độc lập và chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa gắn với đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

     Với góc độ cá nhân, trong mắt nhân dân trong nước và bầu bạn quốc tế. Hai con người, hai danh xưng được hô vang mãi mãi. Đó là Hồ Chí Minh – Võ Nguyên Giáp đã trở nên rất đỗi thân thương. Lịch sử càng lùi xa bao nhiêu thì những chiến công, vai trò, tầm ảnh hưởng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong lòng nhân dân càng sáng tỏ bấy nhiêu. Thời gian như một lớp bụi mờ che đi tất cả nhưng lớp bụi ấy không làm mờ đi được con người vĩ đại như Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Chẳng vậy mà nhà giáo Hồ Cơ đã làm đôi câu đối nhân dịp Đại tướng tròn 90 tuổi đầy xúc động:

Văn lo vận nước văn thành võ

Võ thấu lòng dân võ hóa văn

     Cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trang sử bằng vàng. Dù có trải qua bao nhiêu chức vị, bao nhiêu khó khăn gian khổ, lúc thành lúc bại lúc trông gai nhưng ông luôn luôn vững tâm bền chí, kiên trung với cách mạng, là người chiến sĩ cộng sản mẫu mực, anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, là người học trò mẫu mực của Chủ tịch Hồ Chí Minh đúng với chuẩn mực đạo đức người cộng sản: “Dĩ công vi thượng”. Có lẽ nói về Đại tướng thì không biết bao nhiều cho đủ. Tác giả xin mượn đôi câu đối của nhà giáo Hồ Cơ để kết thúc bài viết này:

Trăm tuổi lừng danh Văn Đại tướng

         Nghìn thu vang tiếng Võ Anh hùng ”.        

ThS Trần Đình Anh - Giảng viên Khoa Xây dựng Đảng

-------------------------

Tài liệu tham khảo:

[1] Theo Báo Pháp luật Việt Nam: “Bác Hồ với việc phong Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp”, số ra ngày 14/5/2020.

[2] Theo Tạp chí Quốc phòng toàn dân: “Phát huy chiến thắng Điện Biên Phủ, xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu” của Đại tướng Ngô Xuân Lịch, số ra ngày 7/5/2019.

[3] Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam: tập 3, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, H.2009.

[4] Võ Nguyên Giáp: Ðiện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử, Sđd, tr.96.

[5], [6], [7], [8] Võ Nguyên Giáp: Ðiện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử, Sđd, tr.66.

[9] Võ Nguyên Giáp: Ðiện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử, Sđd, tr.112.

[10], [11] Đại tướng Võ Nguyên Giáp với chiến dịch Điện Biên Phủ, Sđd, tr.304.

[12] Tố Hữu: “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”, tháng 5/1954.

[13] Tố Hữu: “Ba mươi năm đời ta có Đảng”, tháng 2/1960.

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh