Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ PHÁT TRỂN VĂN HÓA, THỰC HIỆN TIẾN BỘ, CÔNG BẰNG XÃ HỘI, BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THEO TINH THẦN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Ngày đăng 17/09/2021 | 12:16 PM  | View count: 182

Trên cơ sở tổng kết chặng đường 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII;

     Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh giá: “Mục tiêu, đặc trưng, những phương hướng cơ bản và những quan hệ lớn mang tính quy luật trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc tiếp tục được bổ sung, cụ thể hóa, phát triển với những nhận thức quan trọng.”1

     Báo cáo chính trị Đại hội XIII đề ra 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030. Trong định hướng thứ 12 “Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn”, Đại hội đã khẳng định chúng ta cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt 10 mối quan hệ lớn: “Quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”2.

     Do ý nghĩa và tầm quan trọng ngày càng lớn của vấn đề bảo vệ môi trường đối với sự phát triển đất nước, đối với bảo vệ, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân hiện nay và cho các thế hệ mai sau, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội đã từng bước được nêu ra từ các Đại hội trước, được bổ sung thêm nội dung mới là “bảo vệ môi trường” để trở thành mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”.

      Một là, tăng trưởng kinh tế là một khái niệm kinh tế học được dùng để chỉ sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định các chỉ tiêu để đo tăng trưởng kinh tế thường được sử dụng là mức tăng tổng sản phẩm nội quốc (GDP). Tổng sản phẩm quốc dân (GNP), GDP và GNP bình quân đầu người cùng một số chỉ tiêu khinh thế tổng hợp khác.

      Hai là, phát triển văn hóa là khái niệm dùng để chỉ sự thay đổi về đời sống bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của xã hội, đặc biệt là tư tưởng, đạo đức, nếp sống, lối sống, văn học, nghệ thuật, thông tin đại chúng, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, thông tin đại chúng, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ… theo chiều hướng tiến bộ và nhân văn nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần ngày càng cao của xã hội. Thước đo chủ yếu vè sự phát triển văn hóa là các giá trị và chuẩn mực của xã hội nhằm phát triển con người (bao gồm cả thể lựuc, trí lực, phẩm chất, nhân cách,…), xây dựng mội trường văn hóa, các thể chế, thiết chế văn hóa, hoàn thiện các mối quan hệ xã hội hướng tới cái đúng, cái tốt và cái đẹp.

      Ba là, tiến bộ xã hội là sự vận động của xã hội từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ lạc hậu đến văn minh hiện đại. Tiến bộ xã hội trước hết phải xuâst phát từ con người. Sự tiến bộ xã hội còn thể hiện ở sự phát triển ngày càng cao hơn của cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng và ý thức xã hội.

     Nhận thức của chủ nghĩa Mác - Lênin về vị trí của con người trong khái niệm”tiến bộ xã hội” cho đến nay vẫn có tính cập nhật sâu sắc, từ năm 1990 đến nay, để đánh giá đầy đủ và toàn diện mức tiến bộ xã hội, Liên hợp quốc đưa ra chỉ số phát triển con người (HDI), bao gồm các nội dung cụ thể như sau: chỉ số về bình quân thu nhập (GDP/người/năm) và bình quân thu nhập thực tế (PPP/người/năm); chỉ số về giáo dục (tỷ lệ người lớn biết chữ, tỷ lệ người được hưởng nền giáo dục,…); chỉ số về y tế (tuổi thọ bình quân, số người trên 40 tuổi, tỷ lệ người được sủ dụng nước sạch,…).

     Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và đối chiếu nhận thức chung của thời đại về phát triển, Đảng ta xác định tiến bộ xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta có những tiêu chí sau đây:

­     - Lực lượng sản xuất phát triển với hàm lượng khoa học ngày càng cao và với quan hệ sản xuất phù hợp theo định hoứng xã hội chủ nghĩa; kinh tế tăng trưởng nhanh, có chất lượng cao và bền vững.

     - Quyền làm chủ của nhân dân đối với mọi mặt đời sống xã hội được bảo đảm; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong sạch, vững mạnh; dân chủ được phát huy; kỷ luật, kỷ cương được tôn trọng.

     - Văn hóa, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ được mở mang, trình độ dân trí phát triển, quan hệ giữa con người với con người lành mạnh, những thói hư, tật xấu và tệ nạn xã hội được đẩy lùi.

     - Môi trường sinh thái được bảo vệ và cải thiện.

     - Con người có điều kiện từng bước phát triển về thể chất, trí tuệ, đạo đức, nghề nghiệp; có cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc; được cống hiến và hưởng thụ công bằng thành quả của sự phát triển.

      Bốn là, công bằng xã hội là khái niệm mang tính tương dối phụ thuộc vào quan niệm khác nhau của mỗi giai cấp, mỗi quốc gia.

     Tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh coi công bằng xã hội là một trong những đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội. Người nói: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom”3. Trong hoàn cảnh đất nước còn khó khan, thiếu thốn, công bằng lại càng được Người coi trọng. Người tìm thấy trong cách nghĩ của người xưa “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng” quan niệm đúng đắn về vai trò của công bằng ổn định trong xã hội.

     Trong điều kiện Đảng Cộng sản cầm quyền, quan niệm về công bằng xã hội của chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến vấn đề chăm lo cho đời sống nhân dân, thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở, học tập, làm việc, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì khá giả. Người khá giàu thì giàu thêm”4

     Chính tư tưởng của Hồ Chí Minh về công bằng xã hội và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân được quqán triệt trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước mấy chục năm qua đã góp phần quan trọng giữ vững ổn định xã hội chủ nghĩa ngay cả trong những thời điểm khó khăn nhất của cách mạng.

     Nhìn chung, công bằng xã hội là sự công bằng trong phân phối thu nhập, cơ hội phát triển và điều kiện thực hiện cơ hội. Như vậy, công bằng xã hội là một khái niệm rất rộng, bao gồm cả yếu tố kinh té, chính trị, văn hóa, xã hội. Thước đo chủ yếu về công bằng xã hội là: chỉ số phát triển con người (HDI); đường cong Lorenz, hệ số GINI; mức độ nghèo khổ; mức độ thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người…

      Năm là, bảo vệ môi trường. Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên. Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường, cải thiện chất lượng môi trường; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu.

     Có thể nói, việc Đảng ta tiếp tục khẳng định những mối quan hệ đã được xác định trước đây, đồng thời có những sự điều chỉnh, mở rộng và bổ sung một số mối quan hệ mới là hết sức quan trọng. Điều cần lưu ý là, các mối quan hệ lớn mà Đại hội XIII của Đảng đưa ra hoàn toàn không phải xuất phát từ sự chủ quan, duy ý chí; trái lại, đó là kết quả của sự nghiên cứu khoa học lâu dài, của việc coi trọng và thường xuyên tổng kết thực tiễn để khái quát thành lý luận. Đó thực sự thể hiện sự phát triển về chất trong sự nhận thức của Đảng về các mối quan hệ lớn, căn bản, xuyên suốt và có tính quy luật mà chúng ta cần phải tôn trọng và xử lý hài hòa nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đưa đất nước tiến vững chắc theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hiện thực hóa từng bước các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

     Đại hội XIII của Đảng nhận định rằng, trong những năm qua, mặc dù có nhiều khó khăn và thách thức, nhưng kinh tế - xã hội nước ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng và khá toàn diện như: tốc độ tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức khá cao; các lĩnh vực văn hóa, xã hội tiếp tục được phát triển; giảm nghèo nhanh và bền vững; quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu được chú trọng. Tuy nhiên, Đảng ta cũng cho rằng, kinh tế - xã hội phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức đến việc bảo đảm phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển văn hóa, bảo đảm phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường.

     Để giải quyết mối quan hệ này, quan điểm có tính định hướng, chỉ đạo của Đảng tại Đại hội XIII là:

      Thứ nhất, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường..., tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc;

      Thứ hai, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.

      Thứ ba, tập trung chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao...;

      Thứ tư, phát huy các giá trị văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa thật sự trong sạch và lành mạnh, đẩy mạnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực;

      Thứ năm, tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội;

      Thứ sáu, quản lý và sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.

      Thứ bảy, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường;

      Thứ tám, chủ trương phát triển kinh tế thân thiện với môi trường, kinh tế xanh, ít chất thải, cácbon thấp; khuyến khích phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn...

     Có thể nói, với sự bổ sung vấn đề bảo vệ môi trường, quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường thể hiện nhận thức mới, đầy đủ và toàn diện về các trụ cột, các yếu tố căn bản cấu thành sự phát triển bền vững - một định hướng phát triển tất yếu, khách quan, phù hợp với xu thế chung hiện nay của các quốc gia. Nó cho thấy vị trí và tầm quan trọng ngang nhau của cả kinh tế, văn hóa, xã hội lẫn môi trường, cũng như yêu cầu phát triển đồng bộ, toàn diện, không thiên lệch hay tuyệt đối hóa một yếu tố nào.

     Đại hội XIII của Đảng đã xác định mục tiêu tổng quát là phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời xác định các mục tiêu cụ thể: Đến năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, trở thành nuớc phát triển, thu nhập cao.

     Để hiện thực hóa các mục tiêu đó, chúng ta phải quán triệt, nhận thức sâu sắc và xử lý tốt 10 mối quan hệ cơ bản trên đây trong suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đặc biệt, “cần chú trọng hơn đến: Bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữ vững độc lập, tự chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân 5./.

Ths. Nguyễn Thị Ngân -  Khoa Lý luận cơ sở

Trích dẫn:

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.99.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb.CTQG-ST, Hà Nội, tr.119-120.

(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2011, tr.404.

(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2011, tr.81.

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb.CTQG-ST, Hà Nội, tr.120.

 

 

 

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh