Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

ĐƯỜNG LỐI, CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ HỘI NHẬP VÀ HỢP TÁC QUỐC TẾ
Ngày đăng 02/11/2021 | 9:40 AM  | View count: 91

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tích cực, chủ động hội nhập quốc tế và tiến hành hợp tác quốc tế theo đặc điểm từng giai đoạn và thời kỳ với các nước trên thế giới, đặc biệt với các nước xã hội chủ nghĩa, theo hướng sâu rộng cả về hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập an ninh - quốc phòng, văn hóa - xã hội…

     Hội nhập quốc tế là một chủ trương, chiến lược hết sức đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta; là một bước chuyển tư duy mang tính đột phá chiến lược, đem lại cho đất nước các điều kiện để phát triển và một vị thế chưa từng có so với giai đoạn trước đây.

     Chính sách hội nhập quốc tế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ trong bức thư gửi Liên Hợp quốc năm 1946: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:

      a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.

      b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.

      c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên Hợp quốc.

      d) Nước Việt Nam sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lục quân trong khuôn khổ của Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không quân”[1].

     Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hội nhập quốc tế bao gồm một số nội dung chính sau đây:

     Một là, hội nhập quốc tế để giữ vững nền độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

     Hai là, hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa sức mạnh dân tộc kết hợp với việc phát huy sức mạnh quốc tế, sức mạnh thời đại.

     Ba là, hội nhập kinh tế quốc tế để thu hút ngoại lực, mang ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển và thịnh vượng của quốc gia, dân tộc.

     Bốn là, hội nhập văn hóa quốc tế làm giàu cho văn hóa dân tộc, phát huy sức mạnh mềm của đất nước trong giao lưu quốc tế.

     Năm là, Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước với tinh thần trách nhiệm cao.

     Kế thừa quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới đất nước (từ năm 1986 đến nay), Đảng ta đã sớm đề ra đường lối, chiến lược về hội nhập quốc tế và thực hiện hợp tác quốc tế với các nước và tổ chức quốc tế trên thế giới, thể hiện qua từng thời điểm như sau:

     Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) của Đảng chỉ rõ: cần tham gia ngày càng rộng rãi vào việc phân công và hợp tác quốc tế trong Hội đồng tương trợ kinh tế của khối các nước xã hội chủ nghĩa (khối SEV) và chủ động hội nhập quốc tế, hợp tác quốc tế với các nước khác.

     Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991), đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994) chính thức khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới; phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển.

     Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996) đề rõ chủ trương để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới… Hợp tác nhiều mặt, song phương, đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau…

     Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001) đã khẳng định chủ trương: Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh có hiệu quả và bền vững. Đại hội IX chủ trương tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển.

     Đảng đã nhận rõ mối quan hệ giữa hội nhập và phát triển. Hội nhập tạo tiền đề để phát triển, càng phát triển lại càng cần phải hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới do vậy cần phải chủ động hội nhập.

     Tư tưởng chỉ đạo này đã theo suốt trong các bước đi hội nhập sau này, chủ trương chủ động hội nhập của Đại hội IX đã tiếp tục được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 07-NQ/2001/TW về Hội nhập kinh tế quốc tế. Nghị quyết 07 đưa ra quan điểm chỉ đạo phải: Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ gìn an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường.

     Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (năm 2006) tư duy và đường lối hội nhập được phát triển thêm một bước khi đặt ra yêu cầu đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững, nâng cao tính chủ động, tích cực của mình trong các tổ chức quốc tế và khu vực mà Việt Nam tham gia và hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương.

     Đường lối hội nhập của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (năm 2011) có những bổ sung, phát triển phù hợp với tình hình mới, thể hiện ở mục tiêu của đối ngoại là: Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh. Việc nêu rõ lợi ích quốc gia, dân tộc là mục tiêu đối ngoại trong văn kiện Đại hội XI của Đảng có ý nghĩa rất quan trọng, khẳng định rõ hơn định hướng: Đảng đã hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại trên cơ sở lợi ích quốc gia, dân tộc, từ đó tái khẳng định sự thống nhất và hòa quyện giữa lợi ích của giai cấp và lợi ích của dân tộc. Khẳng định lợi ích quốc gia, dân tộc là mục tiêu đối ngoại cũng có nghĩa là Đại hội XI đặt lợi ích quốc gia, dân tộc là nguyên tắc cao nhất của các hoạt động đối ngoại.

     Nghị quyết số 22-NQ/2013/TW về Hội nhập quốc tế xác định mục tiêu: Hội nhập quốc tế phải nhằm củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; quảng bá hình ảnh Việt Nam, bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc; tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

     Bước sang năm 2016, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII cũng đề cập rõ hơn và ở mức cao nhất triển khai mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, coi hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế. Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế bằng cách thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, xây dựng và triển khai chiến lược tham gia các khu vực mậu dịch tự do với các đối tác kinh tế, thương mại quan trọng, ký kết và thực hiện hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong một kế hoạch tổng thể với lộ trình hợp lý.

     Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (năm 2021), trong Văn kiện của Đảng đã có những nội dung kế thừa và phát triển các nhận thức lý luận về hội nhập quốc tế, nâng tầm hội nhập quốc tế lên mức cao hơn khi nhấn mạnh nội dung chủ động, tích cực, toàn diện, sâu rộng .

     Trong phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2021 - 2025), Đảng ta đã đề ra mục tiêu tổng quát: “Chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế” [2].

     Nội hàm của yêu cầu chủ động hội nhập và tích cực của Văn kiện Đại hội lần thứ XIII có bước tiến hơn so với giai đoạn trước khi đặt ra nhiệm vụ cho công tác đối ngoại phải đạt được hiệu quả để nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

     Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030), Đảng đã đưa ra quan điểm phát triển về hội nhập lên một tầm cao mới khi khai thác nội dung tích cực, toàn diện, sâu rộng để phục vụ cho mục tiêu xây dựng nền kinh tế tự chủ đặc biệt là tự chủ về công nghệ nhằm nâng cao năng lực sản xuất quốc gia để cải thiện vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

     Chủ động hội nhập phải đa dạng hóa được thị trường không nên phụ thuộc vào một thị trường và nâng cao khả năng thích ứng của nền kinh tế khi ứng phó với các cú sốc từ bên ngoài, Đảng nhận định: “Xây dựng nền kinh tế tự chủ phải trên cơ sở làm chủ công nghệ và chủ động, tích cực hội nhập, đa dạng hóa thị trường, nâng cao khả năng thích ứng của nền kinh tế. Phải hình thành năng lực sản xuất quốc gia mới có tính tự chủ, tham gia hiệu quả, cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu và khả năng chống chịu hiệu quả trước các tác động lớn, bất thường từ bên ngoài” [3]. Bên cạnh đó, chủ động hội nhập là phải “Chủ động, kiên quyết, kiên trì, đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại” [4]. Độc lập dân tộc tạo ra sức mạnh nội sinh để nâng cao hiệu quả của hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam. Các hoạt động hội nhập của Việt Nam mang tính toàn diện, sâu rộng để phục vụ cho mục đích giữ vững môi trường hòa bình, ổn định: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam” [5].

     Qua 35 năm tiến hành đổi mới, hiện nay Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu rộng vào thị trường thế giới, hội nhập tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế. Những thành công của hội nhập cho thấy chủ trương đúng đắn, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta.

     Từ một nước bị bao vây cấm vận, với chính sách đối ngoại đúng đắn, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã nhanh chóng thiết lập quan hệ hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế. Mở rộng quan hệ hợp tác với các đối tác chiến lược, ký kết và triển khai được nhiều hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là các FTA thế hệ mới như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA).

     Chúng ta đã chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN, Liên hợp quốc và các tổ chức khu vực quan trọng. Năm 2020 với vai trò là Chủ tịch ASEAN và là Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc Việt Nam đã thể hiện rất tốt vai trò điều phối, dẫn dắt của mình, đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của khu vực và thế giới. Với chính sách đối ngoại chủ động, tích cực và hiệu quả, vị thế của Việt Nam không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế. Đánh giá về kết quả trong công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế, Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: “Hội nhập quốc tế và ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển có những bước tiến quan trọng về chủ trương, chính sách cũng như triển khai trên thực tiễn, cùng với quốc phòng và an ninh đã củng cố môi trường hòa bình, ổn định, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế” [6]

     Đánh giá về những thành công trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm (giai đoạn 2016 - 2020), Văn kiện Đại hội XIII đã ghi nhận: “Cán cân xuất nhập khẩu hàng hóa được cải thiện rõ rệt, chuyển từ thâm hụt sang thặng dư.... tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tăng từ 327,8 tỷ USD năm 2015 lên khoảng 517 tỷ USD năm 2019 và năm 2020 mặc dù ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid -19 vẫn đạt 543,9 tỷ USD, tăng gần 1,7 lần và tương đương 200% GDP. Xuất khẩu hàng hóa tăng từ 162 tỷ USD năm 2015 lên 281,5 tỷ USD năm 2020, tăng bình quân 11,7% giai đoạn 2016 - 2020, là động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế” [7].

     Hội nhập không phải là một bức tranh toàn điểm sáng, hội nhập mang đến cho kinh tế Việt Nam cả những cơ hội phát triển mới và những thách thức.

     Trong phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, Văn kiện Đại hội XIII nhận định: “Tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh , phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác, liên kết để phát triển vẫn là xu thế lớn nhưng chủ nghĩa dân tộc cực đoan, xung đột cục bộ, sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên là những thách thức lớn đe dọa sự ổn định và phát triển ở một số khu vực, quốc gia. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, đi kèm theo đó là sự điều chỉnh chiến lược, chính sách ở nhiều quốc gia, tập hợp lực l ượng ngày càng linh hoạt phức tạp” [8].

     Trong bối cảnh đó, Văn kiện Đại hội XIII đề ra mục tiêu hội nhập trong giai đoạn tới của Việt Nam là tiếp tục chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

     Để đạt được mục tiêu nêu trên, Văn kiện đã đề ra nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến hội nhập như sau:

      Thứ nhất, khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do, mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, không để phụ thuộc quá lớn vào một thị trường.

      Thứ hai, tích cực đàm phán các hiệp định thương mại song phương và đa phương. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các đại diện thương mại, xúc tiến thương mại của Việt Nam tại các quốc gia.

      Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại phù hợp với điều kiện của đất nước và hội nhập quốc tế. Nghiên cứu các biện pháp phòng vệ thích hợp, xây dựng hàng rào kỹ thuật để bảo vệ sản xuất và lợi ích người tiêu dùng không trái với các cam kết quốc tế.

      Thứ tư, nghiên cứu phương án để giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực từ các xung đột thương mại đến xuất khẩu. Đa dạng hóa đối tác nhập khẩu, tránh tình trạng phụ thuộc vào một đối tác.

      Thứ năm, ưu tiên nhập khẩu, máy móc, thiết bị, vật tư đầu vào được tạo ra từ công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, hàng hóa trong nước chưa sản xuất được; kiểm soát hiệu quả việc nhập khẩu hàng hóa không thiết yếu, trong nước không sản xuất được.

      Thứ sáu, tăng cường quản lý biên mậu, gia tăng xuất, nhập khẩu chính ngạch, theo hợp đồng; tăng cường kiểm tra, kiểm soát, chống gian lận thương mại, nhãn hiệu hàng hóa, xuất xứ hàng hóa.

      Thứ bẩy, đổi mới nâng cao hiệu quả cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và hiệp hội doanh nghiệp trong việc xử lý các vấn đề phát sinh trong thương mại quốc tế.[9]

      Thứ tám, đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương, kết hợp chặt chẽ với đối ngoại song phương, thực hiện tốt các trọng trách quốc tế, nhất là trong ASEAN, Liên hợp quốc và các khuôn khổ hợp tác ở châu Á - Thái Bình Dương.

      Thứ chín, tiếp tục đổi mới hợp tác quốc tế về pháp luật theo hướng chủ động, tích cực, tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng khu vực và quốc tế... Nghiên cứu giải pháp gia tăng sự hiện diện của chuyên gia pháp luật Việt Nam trong các thiết chế luật pháp quốc tế.

      Thứ mười, đẩy mạnh ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Khai thác tối đa vị thế quốc gia và nguồn lực bên ngoài để phục vụ phát triển đất nước[10].

     Đánh giá về thành tựu công cuộc đỏi mới trong 35 năm qua ở lĩnh vực hội nhập quốc tế, trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: Trong thế giới toàn cầu hóa như hiện nay, sự phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc không thể biệt lập, đứng bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện của nó. Chính vì vậy, chúng ta phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi.

     Quan điểm này của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là chủ trương xuyên suốt của Đảng về hội nhập quốc tế nhằm dẫn dắt Việt Nam nâng cao vị thế trên trường quốc tế, đảm bảo độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường./.

GVC. Nguyễn Thị Ngân - PTK. Khoa Lý luận cơ sở  

 

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2011, tr.86

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, tr.94.

[3] Đảng cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Sđd, tr.216.

[4] Đảng cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Sđd, tr.216.

[5] Đảng cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2,Sđd, tr.331.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Sđd, tr.59.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2,Sđd, tr.14.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2,Sđd, tr.87-88.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Sđd, tr.102-103.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Sđd, tr.154-155.

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh