Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG THỰC THI NHIỆM VỤ, CÔNG VỤ NHẬN DIỆN VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA, NGĂN CHẶN
Ngày đăng 11/01/2022 | 2:51 PM  | View count: 172

Một trong nhiều kết quả tích cực làm nên dấu ấn của nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (2016-2020) đã được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng diễn ra từ ngày 25/1/2021 đến ngày 2/2/2021 tại Thủ đô Hà Nội đánh giá rất cao, được nhân dân hết sức đồng tình và ủng hộ là công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

     Những kết quả thiết thực của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đem lại không chỉ góp phần hiệu quả vào thực tiễn đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện suy thoái "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"… mà còn trực tiếp bảo vệ thành quả công cuộc đổi mới, phát triển của đất nước, bảo đảm các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân đã được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đề ra. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tiêu biểu đó cũng phải thẳng thắn nhìn nhận những tồn tại, hạn chế của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ ra. Trong đó, đáng kể chính là yếu kém trong công tác tự phát hiện tham nhũng trong nội bộ cơ quan, đơn vị. Cụ thể, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “… công tác phòng ngừa tham nhũng ở một số nơi còn hình thức. Việc phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí vẫn còn hạn chế, nhất là việc tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng, lãng phí trong nội bộ cơ quan, đơn vị còn yếu…” (1). Đây có thể xem là điểm nghẽn, cản trở công tác đấu tranh chống tham nhũng vì về cả lý luận lẫn thực tiễn cho thấy chất lượng, hiệu quả chống tham nhũng phụ thuộc rất lớn vào việc tham nhũng có bị phát hiện hay không và bị phát hiện sớm hay muộn... Để khắc phục điều đó cần thiết phải thấy trước mầm mống của tham nhũng ngay chính từ các xung đột lợi ích trong thực thi nhiệm vụ, công vụ.

      1. Nhận diện xung đột lợi ích trong thực thi nhiệm vụ, công vụ.

     Từ quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” đã khẳng định chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng chỉ là người có chức vụ, quyền hạn do bổ nhiệm, bầu cử, tuyển dụng, hợp đồng hoặc một hình thức khác. Khoản 2 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 xác định rõ người có chức vụ, quyền hạn gồm: Cán bộ, công chức, viên chức; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức; Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó . Quy định như vậy nhưng không có nghĩa bất kỳ người nào có chức vụ, quyền hạn đều là chủ thể của tham nhũng mà để cấu thành hành vi tham nhũng thì yếu tố “lợi dụng” chức vụ, quyền hạn là dấu hiệu bắt buộc, tức là chủ thể đã cố ý trực tiếp hay gián tiếp thực hiện không đúng mục đích của chức vụ, quyền hạn được giao khi thực thi nhiệm vụ, công vụ nhằm vụ lợi cho bản thân. Theo đó, thực thi nhiệm vụ, công vụ chính là môi trường, điều kiện thuận lợi để hành vi tham nhũng nẩy sinh vì khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột lợi ích. Đó là xung đột giữa lợi ích của người có chức vụ, quyền hạn khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ với lợi ích của Nhà nước, xã hội và nhân dân được hưởng sau khi người có chức vụ, quyền hạn thực hiện xong nhiệm vụ, công vụ. Vì thế, trong nhiều trường hợp giải quyết công việc hoặc thủ tục hành chính… thuộc nhiệm vụ, quyền hạn, về mặt chủ quan chỉ cần người có chức vụ, quyền hạn có tâm lý “mình được hưởng lợi gì?” so với lợi ích mà Nhà nước, xã hội, nhân dân được hưởng thì nguy cơ nẩy sinh hành vi tham nhũng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ sẽ rất cao. Và khi hành vi tham nhũng được thực hiện sẽ không chỉ trực tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng, hiệu quả thực thi nhiệm vụ, công vụ mà còn làm giảm giá trị và tính nghiêm minh của pháp luật công vụ, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước, chính quyền và đội ngũ cán bộ, công chức nói chung. Vậy nên Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã chính thức quy định cách hiểu về xung đột lợi ích tại khoản 8 Điều 3: “Xung đột lợi ích  là tình huống mà trong đó lợi ích của người có chức vụ, quyền hạn hoặc người thân thích của họ tác động hoặc sẽ tác động không đúng đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ” là hết sức quan trọng và cần thiết để bổ sung thêm cơ sở pháp lý cho việc kiểm soát sung đột lợi ích trong thực thi nhiệm vụ, công vụ, góp phần thiết thực vào công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đang rất quyết liệt hiện nay.

     Tuy nhiên, để xác định đúng và kịp thời phát hiện xung đột lợi ích khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người có chức vụ, quyền hạn không phải là việc đơn giản vì đặc trưng của tham nhũng luôn là những “thỏa thuận ngầm” và “khép kín”. Chính vì vậy, Nghị định 59/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01 tháng 7 năm 2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã xác định các trường hợp là xung đột lợi ích tại Điều 29 như sau:

     Người có chức vụ, quyền hạn được xác định là có xung đột lợi ích khi có dấu hiệu rõ ràng cho rằng người đó thuộc hoặc sẽ thuộc một trong các trường hợp sau đây:

      1. Nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích khác của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình;

      2. Thành lập, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, trừ trường hợp luật có quy định khác;

      3. Tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, công việc thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc tham gia giải quyết;

      4. Sử dụng những thông tin có được nhờ chức vụ, quyền hạn của mình để vụ lợi hoặc để phục vụ lợi ích của tổ chức hoặc cá nhân khác;

      5. Bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu;

      6. Góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề do mình trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước hoặc để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề do mình trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước;

      7. Ký kết hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột hoặc để doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình khi được giao thực hiện các giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó;

      8. Có vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột là người có quyền, lợi ích trực tiếp liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của mình;

      9. Can thiệp hoặc tác động không đúng đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền vì vụ lợi”.

     Có thể nói, việc ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 với nhiều quy định mới tiêu biểu như quy định về xung đột lợi ích và kiểm soát xung đột lợi ích… để thay thế Luật Phòng, chống tham nhũng số 55/2005/QH11 ( được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 01/2007/QH12 và Luật số 27/2012/QH13 ) là một thành công lớn của nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XII của Đảng và Quốc hội khóa XIV nhằm hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Thành công đó đã góp phần minh chứng cho đánh giá tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng: “Công tác phòng, chống tham nhũng  được lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện quyết liệt, toàn diện, đi vào chiều sâu, với quyết tâm chính trị rất cao, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, đạt nhiều kết quả rất quan trọng, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ. Tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn và có chiều hướng giảm (2). Song, cũng theo Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng thì “Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ ta (3). Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục đưa công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng đi vào cả chiều rộng và chiều sâu, trong đó chú trọng các biện pháp kiểm soát xung đột lợi ích trong thực thi nhiệm vụ, công vụ để nâng cao hiệu quả phòng ngừa tham nhũng và hạn chế hậu quả thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra.

      2. Các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn xung đột lợi ích trong thực thi nhiệm vụ, công vụ.

     Xung đột lợi ích luôn có thể nẩy sinh trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ được bắt nguồn từ các yếu tố thuận lợi của môi trường thực hiện nhiệm vụ, công vụ hoặc từ động cơ vụ lợi của chính người có chức vụ, quyền hạn nhằm mục đích chiếm đoạt những giá trị, lợi ích vật chất nhất định… Vì vậy, để phòng ngừa, ngăn chặn xung đột lợi ích khi thực thi nhiệm vụ, công vụ cần tập trung vào các giải pháp cụ thể nhằm triệt tiêu động cơ vụ lợi, nguyên nhân, điều kiện… tác động đến người có chức vụ, quyền hạn và quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ của họ. Cụ thể như sau:

      Một là, các biện pháp phòng ngừa xung đột lợi ích.

     Để chủ động phòng ngừa và hạn chế xung đột lợi ích, người có chức vụ, quyền hạn ngoài nhiệm vụ thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ và tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cá nhân còn cần phải xác định rõ trách nhiệm tuân thủ pháp luật và các chuẩn mực xử sự của nghề nghiệp khi thực thi nhiệm vụ, công vụ. Đó là:

     + Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền và có sự kiểm tra, giám sát. Bảo đảm tính hệ thống, thống nhất, liên tục, thông suốt và hiệu quả. Bảo đảm thứ bậc hành chính và sự phối hợp chặt chẽ. Đây là những nguyên tắc trong thi hành công vụ được quy định tại Điều 3 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) không những có tính bắt buộc chấp hành mà còn phải chấp hành bằng hành động tích cực, chủ động nhằm đảm bảo sự liêm chính, trách nhiệm, đạo đức công vụ, hiệu lực, hiệu quả và tính hợp pháp của hoạt động công vụ cũng như các kết quả của hoạt động công vụ đó.

     + Không thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm liên quan đến tham nhũng mà trực tiếp và cụ thể là 9 trường hợp được quy định là xung đột lợi ích tại Điều 29 Nghị định 59/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01 tháng 7 năm 2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

     + Thực hiện nghĩa vụ giải trình khi được yêu cầu với tinh thần trách nhiệm cao để đảm bảo tính công khai, minh bạch của quyết định hành chính, hành vi hành chính, quá trình thực hiện và kết quả thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao. Việc giải trình trung thực, chính xác, khách quan là cơ sở quan trọng để chứng minh, khẳng định không có xung đột lợi ích và tính liêm chính, trong sạch của người có chức vụ, quyền hạn trong thực thi nhiệm vụ, công vụ.

     + Không vi phạm các quy định về tặng quà và nhận quà tặng. Đây là một trong các biện pháp phòng, chống tham nhũng nói chung được các Luật về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam qua các thời kỳ đều ghi nhận bởi vì hành vi nhận quà tặng là một trong những nguyên nhân có thể làm nảy sinh xung đột lợi ích khi thực thi nhiệm vụ, công vụ của người có chức vụ, quyền hạn. Chính việc tặng quà và nhận quà tặng đã làm cho người có chức vụ, quyền hạn ban đầu không có ý định làm sai, làm trái chức vụ, quyền hạn đã chuyển sang chủ động lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ để được hưởng những lợi ích vật chất từ quà tặng đem lại. Vì vậy, để phòng ngừa, ngăn chặn xung đột lợi ích trong trường hợp này, người có chức vụ, quyền hạn và người thân không nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình. Trường hợp không từ chối được thì phải thực hiện nghĩa vụ báo cáo Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị mình hoặc Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp và thực hiện trách nhiệm nộp lại quà tặng để xử lý theo quy định của Pháp luật về phòng, chống tham nhũng (4).

     + Chủ động, tự giác kiểm soát xung đột lợi ích trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ. Đây là biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa, ngăn chặn xung đột lợi ích vì người có chức vụ, quyền hạn là người biết rõ nhất và phát hiện nhanh nhất các nguy cơ cũng như thấy trước các khả năng nẩy sinh xung đột lợi ích khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Do đó, về khách quan, người có chức vụ, quyền hạn hoàn toàn có đầy đủ điều kiện để phòng ngừa, ngăn chặn xung đột lợi ích. Về chủ quan, người có chức vụ, quyền hạn hoàn toàn có thể tự kiềm chế bản thân và chủ động không thực hiện những hành vi làm phát sinh xung đột lợi ích. Người có chức vụ, quyền hạn cũng có thể tự giác báo cáo với cấp trên về các nguy cơ, khả năng xảy ra xung đột lợi ích nếu nhiệm vụ, công vụ được thực hiện. Từ đó người có chức vụ, quyền hạn và cấp trên có thể áp dụng các biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn, triệt tiêu không để xung đột lợi ích xảy ra.

     Có thể thấy rằng, mặc dù các biện pháp phòng ngừa này luôn phụ thuộc vào ý thức pháp luật và tính trách nhiệm của người có chức vụ, quyền hạn nhưng nếu các biện pháp chủ động hạn chế xung đột lợi ích được coi trọng và thực hiện tốt thì có thể góp phần quan trọng giải quyết được nguyên nhân sâu xa của tham nhũng, giúp cho quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ đạt mục tiêu, chất lượng, hiệu quả cao nhất, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật đồng thời nâng cao ý thức tự giác, khuyến khích tính trung thực và các giá trị đạo đức tốt đẹp vốn có trong mỗi con người, nhất là những người có chức vụ, quyền hạn.

      Hai là, các biện pháp ngăn chặn xung đột lợi ích.

     Nhìn chung, những kết quả đạt được rất tích cực trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đánh giá không chỉ được đông đảo các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước, bạn bè quốc tế đồng tình, ủng hộ mà còn phần nào khẳng định sự hiện hữu xu hướng “không muốn” và “không dám” tham nhũng ở Việt Nam. Xu hướng đó đang tác động mạnh mẽ làm thay đổi tư tưởng, tư duy của người có chức vụ, quyền hạn trong việc tự đấu tranh giữa tham nhũng và không tham nhũng. Với trình độ, năng lực theo yêu cầu phải có, những người có chức vụ, quyền hạn hiện nay đều nhận thức rõ những nguy cơ tiềm ẩn và khả năng phát sinh xung đột lợi ích trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ. Tuy nhiên, ngoài trường hợp biết hoặc buộc phải biết về xung đột lợi ích khi thực thi nhiệm vụ, công vụ mà không chủ động, tự giác báo cáo cấp có thẩm quyền thì cũng còn những trường hợp người có chức vụ, quyền hạn không biết hoặc do cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác phát hiện xung đột lợi ích. Đối với tất cả các trường hợp này, theo khoản 3 Điều 23 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, cấp có thẩm quyền, người trực tiếp quản lý, sử dụng người có chức vụ, quyền hạn phải xem xét, áp dụng một trong các biện pháp cần thiết để ngăn chặn xung đột lợi ích một cách hiệu quả. Các biện pháp đó bao gồm: “Giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của người có xung đột lợi ích; Đình chỉ, tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của người có xung đột lợi ích; Tạm thời chuyển người có xung đột lợi ích sang vị trí công tác khác”. Trên cơ sở đó, Nghị định 59/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01 tháng 7 năm 2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã có những quy định hướng dẫn cụ thể có tính bắt buộc phải tuân thủ để đảm bảo việc áp dụng các biện pháp này chính xác, khách quan, hợp pháp trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của các nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Về cơ bản, việc quyết định lựa chọn áp dụng biện pháp nào để ngăn chặn xung đột lợi ích trong thực thi nhiệm vụ, công vụ của người có chức vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của người trực tiếp quản lý, sử dụng người có xung đột lợi ích. Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện đúng thẩm quyền, tránh các biểu hiện chủ quan, duy ý chí, quan liêu… người có thẩm quyền cần xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng các căn cứ áp dụng của mỗi biện pháp. Cụ thể:

     + Với biện pháp G iám sát việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của người có xung đột lợi ích chỉ quyết định áp dụng khi có căn cứ cho rằng người đó không bảo đảm tính đúng đắn, khách quan, trung thực trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà chưa cần thiết phải áp dụng biện pháp đình chỉ, tạm đình chỉ công tác hoặc tạm thời chuyển người có xung đột lợi ích sang vị trí công tác khác.

     + Với biện pháp Tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của người có xung đột lợi ích; tạm thời chuyển người có xung đột lợi ích sang vị trí công tác khác chỉ quyết định áp dụng khi có căn cứ cho rằng nếu để người đó thực hiện nhiệm vụ, công vụ hoặc tiếp tục giữ vị trí công tác đó sẽ không đảm bảo tính khách quan, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Việc tạm thời chuyển vị trí công tác đối với người có chức vụ, quyền hạn để ngăn chặn xung đột lợi ích cần chú ý đến tính chất, mức độ của từng vụ việc cụ thể và yêu cầu bố trí, sử dụng vị trí việc làm đã được phê duyệt trong cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.

     + Với biện pháp Đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của người có xung đột lợi ích chỉ quyết định áp dụng khi có căn cứ rõ ràng về việc người đó có hành vi vi phạm pháp luật hoặc có tác động không đúng đắn, gây khó khăn, cản trở đến hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (5).

     Tóm lại, nhận diện đúng các xung đột lợi ích trong thực thi nhiệm vụ, công vụ là yêu cầu, đòi hỏi hết sức quan trọng để kịp thời phát hiện tham nhũng ngay từ trong nội bộ cơ quan, đơn vị và xử lý hiệu quả bằng những biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn đã được pháp luật về phòng, chống tham nhũng quy định. Đây không chỉ là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mà còn là giải pháp hữu hiệu để bất kỳ người có chức vụ, quyền hạn nào cũng có thể tự kiểm soát được khả năng, mức độ, giới hạn trong quá trình sử dụng quyền lực và tự kiềm chế được lòng tham để đảm bảo tính liêm chính, hiệu quả của việc thực thi nhiệm vụ, công vụ./.

Phạm Đình Dũng -  Khoa Nhà nước và Pháp luật

 

(1) (2) (3) Báo cáo chính trị của BCH khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

(4) Xem Điều 25, 26, 27 Nghị định 59/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01 tháng 7 năm 2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

 (5) Xem Điều 32, 33, 34 Nghị định 59/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01 tháng 7 năm 2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

 

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh