Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

CHUYỂN ĐỔI SỐ - MỘT CHỦ TRƯƠNG LỚN CỦA ĐẢNG TA TRONG CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC HÙNG CƯỜNG
Ngày đăng 15/03/2022 | 10:38 AM  | View count: 246

TS Lê Thị Thu Huyền - Giảng viên Khoa Lý luận cơ sở - Trường ĐTCB Lê Hồng Phong TP Hà Nội

     1. Tính tất yếu của chuyển đổi số ở Việt Nam

      1.1. Quan niệm về chuyển đổi số

     Sự phát triển vượt bậc của công nghệ số và việc ứng dụng phổ biến những thành tựu nổi bật như: Công nghệ điện tử và truyền thông, công nghệ thông tin với trí thông minh nhân tạo (AI), các hệ thống tích hợp, phân tích dữ liệu lớn,…vào phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay, đưa nhân loại bước vào kỷ nguyên chuyển đổi số.

     Chuyển đổi số là xu thế, là tất yếu trong thời đại ngày nay, đó là cơ hội cho các nước, các doanh nghiệp vượt lên trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhưng cũng là nguy cơ tụt hậu, bị bỏ lại ngày càng xa đối với ai không quan tâm đến nó. Chuyển đổi số không đơn giản là mức ứng dụng và phát triển cao hơn của ICT, mà là “đột phá” trong phát triển kinh tế - xã hội. Khi đó, dữ liệu và công nghệ số làm chuyển đổi, cải biến toàn diện mô hình, quy trình, sản phẩm/kết quả đầu ra của quá trình sản xuất, kinh doanh trong xã hội.

     Chuyển đổi số (Digital Transformation) là việc sử dụng dữ liệu và công nghệ số để thay đổi một cách tổng thể và toàn diện tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội, tái định hình cách chúng ta sống, làm việc và liên hệ với nhau. Có thể nói, chuyển đổi số là việc cấp bách nếu muốn phát triển; trên quy mô quốc gia, chuyển đổi số ảnh hưởng ngày càng lớn đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện trong cách thức vận hành, tổ chức của một cơ quan, một đơn vị, một tập thể hay một bộ máy.

     Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau, song các cách diễn đạt đó đều có sự thống nhất rằng: Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số.

     Đó là là quá trình chuyển đổi toàn diện các hoạt động của con người từ không gian thực lên không gian số, để tạo ra phương thức hoạt động mới, cơ hội mới và giá trị mới. Để thực hiện được cuộc chuyển đổi đó, con người nhất thiết phải dựa vào 4 công nghệ số là: trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud Computing).

     Các quốc gia trên thế giới tập trung chuyển đổi số - coi đó là cơ sở, là động lực để hội nhập và tham gia vào nền kinh tế thế giới. Để chuyển đổi số thành công, nhiều nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng, chuyển đổi số cần hội đủ ba điều kiện cơ bản: Một là, có hạ tầng số làm nền tảng cho các dịch vụ số hoạt động; hai là, có tài nguyên số, dữ liệu số để vận hành các dịch vụ số; ba là, ban hành và thực thi chính sách chuyển đổi số, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó nguồn nhân lực công nghệ thông tin, truyền thông, thương mại điện tử là nguồn nhân lực trực tiếp cho triển kinh tế số.

      1.2. Nội dung chuyển đổi số

     Nhận thức được tầm quan trọng của chuyển đổi số, hiện nhiều nước đã xây dựng và triển khai các chiến lược/chương trình quốc gia về chuyển đổi số. Nội dung chuyển đổi số của các nước có khác nhau, phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước. Tuy nhiên, nói chung các quốc gia đều hướng tới các nội dung chính sau:

      Một là, chuyển đổi số nền kinh tế (kinh tế số), bao gồm: phát triển các doanh nghiệp số; chuyển đổi số cho các doanh nghiệp truyền thống (hướng tới sản phẩm tích hợp số; chuyển đổi mô hình kinh doanh trên nền tảng số; thay đổi quy trình sản xuất dựa trên dữ liệu số, tự động hóa, ảo hóa,…); phát triển tài chính số; phát triển thương mại điện tử; chuyển đổi số trong một số ngành trọng điểm để phát triển kinh tế - xã hội như: giáo dục, y tế, nông nghiệp, du lịch, điện lực, giao thông,…;

      Hai là, chuyển đổi số xã hội (xã hội số), trong đó tập trung vào các lĩnh vực như: ứng dụng công nghệ số để nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm khoảng cách xã hội như giáo dục, y tế, văn hóa, an toàn an ninh xã hội,…;

      Ba là, chuyển đổi số trong cơ quan Chính phủ (Chính phủ số), nhằm cung cấp dịch vụ công thuận tiện cho doanh nghiệp, người dân, tăng cường sự tham gia người dân trong các hoạt động cơ quan nhà nước; tăng cường hiệu quả hoạt động và đổi mới trong các cơ quan nhà nước; phát triển dữ liệu mở của cơ quan nhà nước, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.  

      1.3. Chuyển đổi số ở Việt Nam là tất yếu

      * Chuyển đổi số ở Việt Nam phù hợp với xu thế phát triển của chung của các quốc gia trên thế giới

     Quá trình toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với xu hướng số hóa, chuyển đổi số đang tác động mạnh mẽ tới các quốc gia, các khu vực. Dưới tác động của chuyển đổi số, đã làm xuất hiện các nguồn lực mới đó là tài nguyên số, của cải số. Do đó, sức mạnh, quyền lực của các quốc gia hiện nay được đo bằng sự phát triển của tài nguyên số, công nghệ cao và trí tuệ con người.

     Dưới sự tác động của chuyển đổi số, bản đồ doanh nghiệp trên thế giới đang được vẽ lại nhanh chóng: Nếu như vào năm 2006, trong 7 tập đoàn, công ty có vốn hoá lớn nhất thế giới thì chỉ có 1 tập đoàn công nghệ (Microsoft), thì đến năm 2018, cả 7 tập đoàn có vốn hoá lớn nhất thế giới đều là các công ty, tập đoàn công nghệ đang dẫn dắt cuộc cách mạng số. Năm 2021, top 10 hay 100 thương hiệu có giá trị nhất thế giới chủ yếu là các công ty, tập đoàn công nghệ hoạt động trên không gian số.

     Nhận thức được điều đó, các quốc gia trên thế giới, nhất là các nước phát triển đều có chiến lược phát triển công nghệ số của riêng mình. Chẳng hạn: Mỹ có “Chiến lược quốc gia về sản xuất tiên tiến”; Pháp - “Bộ mặt mới của công nghiệp nước Pháp”; Đức- chương trình công nghiệp 4.0; ở Nga, ngay từ năm 2020 tổng thống Putin đã đặt ra mục tiêu chuyển nước Nga sang số hóa trong 10 năm tới. Ở châu Á, Nhật và Singapo xây dựng xã hội thông minh, quốc gia thông minh; Hàn Quốc có “Chương trình tăng trưởng của Hàn Quốc trong tương lai”; các nước bên cạnh Việt Nam như: Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia...đều có kế hoạch chuyển đổi số.

     Đứng trước xu thế đó, Việt Nam không thể đứng ngoài. Chúng ta bắt buộc phải hàng động, tham gia vào chuyển đổi số. Đây chính là cơ hội hiếm có để Việt Nam bứt phá đi lên cùng với các cường quốc trên thế giới.

      * Chuyển đổi số ở Việt Nam xuất phát từ vai trò, giá trị của chuyển đổi số

     Chuyển đổi số là nội dung cốt lõi của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nó diễn ra với tốc độ nhanh chóng và mang lại những lợi ích, giá trị to lớn đối với cả quốc gia, doanh nghiệp và người dân. 

      Một là, đối với quốc gia: Chuyển đổi số tạo bứt phá và thành công cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển trong việc nâng cao năng suất, khả năng cạnh tranh và rút ngắn khoảng cách phát triển. Chính vì vậy, nếu quốc gia nào tận dụng tốt cơ hội mà chuyển đổi số mang lại thì sẽ thành công.

     Chuyển đổi số còn làm thay đổi nhận thức và hành động của các nước trong việc xây dựng “Chính phủ số”, “Chính phủ điện tử”. Từ đó, tiết kiệm chi phí, minh bạch thông tin và phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn. Theo cách tính của Ngân hàng Thế giới, việc cải cách thủ tục hành chính và xây dựng Chính phủ điện tử sẽ giúp Việt Nam tiết kiệm 14.900 tỷ đồng mỗi năm.

     Chuyển đổi số đóng góp nhiều nguồn lực và giá trị mới cho phát triển kinh tế của các quốc gia. Chuyển đổi số còn đem lại những giải pháp thông minh, hiệu quả trong giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường, chẳng hạn như: xây dựng đô thị thông minh giúp hạn chế khí thải nhà kính, ô nhiễm môi trường, tiết kiệm năng lượng, hạn chế được tình trạng tội phạm, ùn tắc, tai nạn giao thông...

      Hai là, đối với doanh nghiệp: Chuyển đổi số hiện nay được xem là vấn đề sống còn của các doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh Covid 19 diễn ra phức tạp. Chuyển đổi số giúp các doanh nghiệp phản ứng kịp thời với nhu cầu của khách hàng, nâng cao hiệu quả marketing, khả năng cạnh tranh, giúp tiết kiệm chi phí; tối ưu hóa năng suất làm việc... Đặc biệt, chuyển đổi số mang lại rất nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp nhỏ, các startup. Nếu trước đây, các công nghệ kiểu cũ thì chỉ có các công ty lớn, có rất nhiều tiềm lực kinh tế mới có thể tiếp cận được thì bây giờ, công ty nhỏ hay startup mới đều có thể tiếp cận được công nghệ không thua kém gì các những công ty lớn.

      Ba là, đối với người dân: Việc chuyển đổi số sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng cho người dân như: Khi thực hiện Chính phủ số, mỗi người dân sẽ được cấp một mã số định danh và được trải nghiệm các dịch vụ số hiện đại và được chăm sóc tốt hơn. Khi thực hiện kinh tế số, mỗi người dân, mỗi gia đình đều có thể trở thành một doanh nghiệp có thể tiếp cận thị trường một cách nhanh chóng theo cách chưa từng có. Khi thực hiện xã hội số sẽ giúp xóa nhòa khoảng cách địa lý, tạo cơ hội bình đẳng, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân để “Không ai bị bỏ lại phía sau”. Chẳng hạn, học sinh ở miền núi có thể được học trực tuyến với những thầy giáo giỏi nhất ở Hà Nội. Một người lao động Việt Nam ở nước ngoài có thể nhận được những ý kiến tư vấn, chăm sóc y tế từ xa bởi những bác sĩ giỏi nhất ở các bệnh viện hàng đầu Việt Nam, với giá thành dịch vụ rẻ hơn gấp nhiều lần so với ở nước ngoài...

     Như vậy, chuyển đổi số có vai trò và lợi ích to lớn đối với các quốc gia, doanh nghiệp và mỗi người dân. “Thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số để tạo bứt phá về nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế” [1] . Đây chính là chìa khóa quan trọng để chúng ta xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước hùng cường vào giữa thế kỷ XXI.

      2. Quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về chuyển đổi số   

     Ở Việt Nam, chuyển đổi số được Đảng ta xác định là cơ hội bứt phá để nước ta nhanh chóng bắt kịp các nước phát triển, là phương thức đột phá để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Nhận thức được tầm quan trọng của chuyển đổi số trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Việt Nam đang nỗ lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi số, coi đó là một trong những trụ cột quan trọng, tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới. Tận dụng lợi thế của một quốc gia đi sau trên con đường phát triển, Việt Nam cần phải tận dụng những lợi thế của chuyển đổi số để hiện đại hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội, tăng khả năng cạnh tranh, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển với các nước trong khu vực và trên thế giới.

     Nắm bắt xu thế này, ngày 27/9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52/NQ-TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nghị quyết đã nhận thức rõ về ưu thế của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đổi mới mô hình tăng trưởng trên cơ sở, nền tảng chuyển đổi số khi khẳng định: Tận dụng có hiệu quả các cơ hội do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại để thúc đẩy quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế…, phát triển mạnh mẽ kinh tế số, phát triển nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao để đến năm 2025, kinh tế số chiếm 20% GDP và đến năm 2030 là 30% GDP.

     Trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng, các khái niệm về kinh tế số, xã hội số, chuyển đổi số đã được đưa ra trong mục tiêu và quan điểm phát triển kinh tế và xã hội của Đảng. Văn kiện đã chỉ rõ: Phấn đấu đến năm 2030 hoàn thành xây dựng chính phủ số, kinh tế số đạt khoảng 30% GDP và đứng trong nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới và xếp thứ 3 trong khu vực ASEAN về Chính phủ số và kinh tế số. Từ đó, Đảng ta cũng đã chỉ ra định hướng mang tính chiến lược: Chú trọng phát triển hạ tầng viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số và xã hội số. 

     Hiện thực hóa những chủ trương trên, Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Theo đó, chương trình chuyển đổi số của Việt Nam còn được gọi là “Chương trình thông minh hóa quốc gia” với ba trụ cột chính: Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Với Chương trình chuyển đổi số, Việt Nam hướng tới khát vọng “xây dựng đất nước hùng cường” thông qua thông điệp “Make in Vietnam”.

      3. Những thành tựu nổi bật trong chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay 

     Trong thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, chuyển đổi số trong các lĩnh vực của đời sống xã hội được triển khai mạnh mẽ, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị và hoạt động. Có thể khái quát, việc chuyển đổi số ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực như: Việt Nam là một trong những quốc gia sớm có chương trình, chiến lược về chuyển đổi số song hành cùng các quốc gia tiên tiến trên thế giới. Trên 50% các bộ, ngành, địa phương đã xây dựng và bắt đầu triển khai các chương trình, đề án, kế hoạch về chuyển đổi số. Nhiều doanh nghiệp công nghệ Việt Nam đã làm chủ các công nghệ lõi, phát triển các nền tảng công nghệ cho chuyển đổi số. Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế số ở mức khá trong khu vực ASEAN với hạ tầng viễn thông – công nghệ thông tin khá tốt, phủ sóng rộng, mật độ người dùng cao. Việt Nam hiện xếp thứ 13 trong top 20 quốc gia có số dân sử dụng mạng Internet đông nhất thế giới. Xu hướng số hóa xuất hiện ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực đã góp phần thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển, nâng cao đời sống nhân dân.

     Trong xây dựng Chính phủ điện tử, tiến tới xây dựng Chính phủ số, Việt Nam đã xây dựng được một số cơ sở dữ liệu mang tính chất nền tảng thông tin như: Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia đang được xây dựng và đã có những cấu phần đi vào vận hành. Các cơ quan Nhà nước đã cung cấp một số dịch vụ công trực tuyến thiết yếu cho doanh nghiệp và người dân như: Đăng ký doanh nghiệp, kê khai thuế, nộp thuế, hải quan điện tử, bảo hiểm xã hội… Một số bộ, ngành đã xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng. Tại một số địa phương, hệ thống thông tin một cửa điện tử được đưa vào vận hành, dần nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm của đội ngũ công chức. Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã có sự thăng hạng về chính phủ điện tử liên tục trong 06 năm qua, từ vị trí thứ 99 (năm 2014) lên vị trí thứ 86 (năm 2020). Cụ thể, Liên hợp quốc đánh giá chỉ số về chính phủ điện tử theo bốn mức: Rất cao (trên 0,75 điểm), cao (từ 0,5 đến 0,75 điểm), trung bình (từ 0,25 đến 0,5 điểm), thấp (dưới 0,25 điểm). Năm 2020, chỉ số dịch vụ công trực tuyến của Việt Nam là 0,6529 điểm; chỉ số về cơ sở hạ tầng viễn thông là 0,6694 điểm (đều ở mức cao theo chỉ số đánh giá của Liên hợp quốc). Bên cạnh đó, chỉ số nguồn nhân lực của Việt Nam tăng không đáng kể với 0,6779 điểm[2].

     Trong phát triển kinh tế số Việt Nam. Xét về mức độ tăng trưởng của nền kinh tế số ở Việt Nam tính từ năm 2015 đến nay thì mức độ tăng trưởng trung bình là 38%/năm so với 33% của cả khu vực Đông Nam Á, trong đó thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là 2 trong 7 thành phố lớn phát triển kinh tế số của khu vực. Về phát triển ngành kinh tế mũi nhọn, tạo nền tảng, động lực cho phát triển kinh tế số ở Việt Nam như: ngành Công nghệ thông tin và truyền thông, Thương mại điện tử đang có những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế đất nước.

     Hiện nay, ngành Công nghệ thông tin và truyền thông ở Việt Nam đã trở thành ngành kinh tế lớn, góp phần làm thay đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước và có “tốc độ tăng trưởng doanh thu toàn ngành cao hơn tăng trưởng GDP cả nước, đạt khoảng 2,65 triệu tỷ đồng, tăng 112,6% so với 2017. Việt Nam hiện đã sản xuất được trên 70% các loại thiết bị viễn thông và quyết tâm trở thành nước thứ 4 trên thế giới sản xuất được tất cả thiết bị viễn thông và xuất khẩu được ra thế giới. Phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam là định hướng trọng tâm thời gian tới… mang các sản phẩm, giải pháp, dịch vụ với thương hiệu “Make in Vietnam” làm chủ thị trường trong nước và vươn tầm thế giới”[3].

     Thương mại điện tử là lĩnh vực phát triển sôi động nhất với nhiều doanh nghiệp tham gia như: Vuivui.com, Tiki.vn, Shopee.vn, Lazada.vn Sendo.vn..., các nền tảng thanh toán trung gian bằng công nghệ QR Code, ví điện tử (123Pay và ZaloPay của ZION, Momo, Webmoney, Payoo...), mạng xã hội (Zalo, Viber, Facebook, Telegram…), thiết bị IoT, thanh toán trực tuyến của các ngân hàng... Theo khảo sát của VECOM, ở Việt Nam “tốc độ tăng trưởng của thương mại điện tử đạt trên 32%. Tốc độ tăng trưởng trung bình (CAGR) cho cả giai đoạn bốn năm 2016-2019 khoảng 30%. Quy mô thương mại điện tử bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng năm 2019 đạt khoảng 11,5 tỷ USD”, và “năm 2020 sẽ tiếp tục duy trì ở mức trên 30%, khi đó quy mô thương mại điện tử Việt Nam sẽ vượt con số 15 tỷ USD”[4]. Tỷ trọng của thương mại điện tử trong tổng doanh số thị trường bán lẻ của Việt Nam năm 2019 chiếm 4,8 % so với tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước và đang có xu hướng tăng lên nhanh chóng. Thương mại điện tử đang trở thành một hình thái kinh doanh phổ cập của doanh nghiệp và có sức lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng người tiêu dùng Việt Nam.

     Từ những kết quả trên, Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đánh giá mức độ sẵn sàng cho nền sản xuất trong tương lai, “Việt Nam đang nằm trong Nhóm quốc gia sơ khởi nhưng tiệm cận rất gần với Nhóm có triển vọng cao với xếp hạng 39/100 quốc gia về Nhu cầu của thị trường và 53/100 quốc gia về Khung thể chế chính sách”[5].

     Để chuyển đổi số ở Việt Nam thành công, chúng ta không chỉ nhìn thấy thời cơ, lợi thế, không chỉ đề ra các chủ trương, chính sách, đề án, chương trình,… chuyển đổi số, mặc dù đó là yếu tố quan trọng, mà vấn đề quan trọng hơn là cần phải đánh giá đúng các thách thức và tìm ra cách thức, giải pháp hữu hiệu để vượt qua những thách thức đó. Chuyển đổi số ở Việt Nam đang đối diện với những thách thức cơ bản: Nhận thức về chuyển đổi số mang tính tất yếu, về chiến lược tiếp cận ở cả cấp độ quản lý nhà nước đến cấp độ doanh nghiệp và của người dân còn chưa cao; hạ tầng viễn thông chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu; việc đảo đảm an toàn, an ninh trong môi trường số còn hạn chế; nguồn nhân lực, nhất là nhân lực công nghệ thông tin và truyền thông, thương mại điện tử - nhân tố quan trọng nhất, trực tiếp nhất trong cạnh tranh và phát triển kinh tế số, số lượng còn ít và chất lượng chưa đảm bảo.

     Với mục tiêu xây dựng Việt Nam thịnh vượng trong kỷ nguyên số, chúng ta phải hành động vươn lên, phát huy nguồn nhân lực năng động, sáng tạo, đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ mới nhằm nâng cao trình độ để ngày càng có nhiều doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới, mạnh mẽ tiến lên những nấc thang có giá trị gia tăng cao hơn, thu được nhiều hơn khi tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu. Chuyển đổi số ở Việt Nam là tất yếu. Đây chính là cuộc cách mạng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Để chuyển đổi số thành công, cần tập trung thực hiện một số biện pháp cơ bản như: Nâng cao nhận thức để thúc đẩy quá trình chuyển đổi số; tạo hành lang pháp lý cho quá trình chuyển đổi số; phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng thiết yếu; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin và truyền thông, thương mại điện tử, chủ thể trực tiếp của tiến trình chuyển đổi số./.

 

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIITập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, tr.221.

[2] Department of Economic and Social Affairs (UN): United Nations E-Government Survey 2020 (Digital government in the decade of action for sustainable development), United Nations New York, p.272

[3] Bộ Thông tin và Truyền thông (2020): Sách trắng Công nghệ thông tin và truyền thông 2019.

[4] Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (2020): Báo cáo chỉ số Thương mại điện tử 2020, tr.9.

[5] Bộ Thông tin và Truyền thông (2020): Sách trắng Công nghệ thông tin và truyền thông 2019, tr.11.

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh