Truy cập nội dung luôn

  Nghiên cứu trao đổi

KỶ NIỆM 110 NĂM NGÀY SINH TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN VĂN CỪ (09/7/1912 – 09/7/2022) TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN VĂN CỪ VÀ TÁC PHẨM “TỰ CHỈ TRÍCH”
Ngày đăng 09/07/2022 | 4:00 PM  | View count: 53

ThS Trương Thị Nguyệt - Khoa Xây dựng Đảng

     1. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ - người chiến sĩ cộng sản cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng

     Đồng chí Nguyễn Văn Cừ sinh ngày 09/7/1912, trong một gia đình nhà nho nghèo, có truyền thống khoa bảng ở xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ( Nay thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh).

     Khi mới 15  tuổi và đang theo học ở Trường Bưởi, đồng chí đã hăng hái tham gia các hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1928, đồng chí bị thực dân Pháp đuổi học vì tham gia hoạt động cách mạng.

     Về quê, Nguyễn Văn Cừ tiếp tục chắp nối liên lạc với các đồng chí trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, xây dựng cơ sở cách mạng ở địa phương. Cuối năm 1928, đồng chí được tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên giới thiệu về hoạt động "vô sản hóa" ở mỏ than Vàng Danh.

     Năm 1929, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được kết nạp vào tổ chức Đông Dương Cộng sản Đảng. Năm 1930, đồng chí cùng với Nguyễn Đức Cảnh thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên ở Mạo Khê, sau đó phát triển tổ chức cơ sở đảng trên toàn vùng mỏ, thành lập Đặc khu uỷ mỏ, ra tờ báo Than.

     Tháng 02/1931, trên đường đi công tác từ Cẩm Phả về Hòn Gai, đồng chí bị thực dân Pháp bắt, đưa về giam ở nhà tù Hỏa Lò, bị kết án tù khổ sai và đày đi Côn Đảo.

Năm 1936, do áp lực của các cuộc đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân ta và Mặt trận nhân dân Pháp, đồng chí Nguyễn Văn Cừ và một số tù chính trị Côn Đảo được trả tự do. Đồng chí về Hà Nội liên lạc với Đảng, lập ra "Uỷ ban sáng kiến". Tháng 7/1937, đồng chí tham gia thành lập Xứ uỷ Bắc Kỳ, khôi phục các cơ sở đảng ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

     Tại Hội nghị Trung ương mở rộng (tháng 9/1937), đồng chí được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ năm (3/1938), đồng chí Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Tháng 7/1939, Đồng chí viết tác phẩm “Tự chỉ trích” để đấu tranh tự phê bình và phê bình trong Đảng, chấn chỉnh những tư tưởng lệch lạc, sai trái, thực hiện đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng.

     Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã chỉ đạo đưa Đảng rút vào hoạt động bí mật và tích cực chuẩn bị cho việc chuyển hướng chiến lược cách mạng.

     Tháng 11/1939, trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ sáu, cùng Trung ương Đảng bàn và ra nghị quyết thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, thay cho Mặt trận dân chủ Đông Dương, mở ra thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam - thời kỳ vận động giải phóng dân tộc.

     Giữa lúc phong trào cách mạng của dân tộc đang bước vào cao trào mới thì ngày 18/01/1940, đồng chí Nguyễn Văn Cừ bị địch bắt. Ngày 23/11/1940, sau khi khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ, thực dân Pháp khép đồng chí Nguyễn Văn Cừ vào tội đã thảo ra “Nghị quyết thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương”, “chủ trương bạo động”, là người có trách nhiệm tinh thần trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ và kết án tử hình. Ngày 28/8/1941, đồng chí anh dũng hy sinh tại trường bắn Ngã Ba Giồng, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, thành phố Sài Gòn.

     Với 29 tuổi đời, hơn 13 năm tham gia cách mạng, 7 năm bị giam cầm trong nhà tù đế quốc, hơn hai năm làm Tổng Bí thư của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ là một chiến sĩ cộng sản ưu tú, nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam, người có tầm nhìn chiến lược, một tấm gương cao đẹp về đạo đức cách mạng.

      2. Tác phẩm Tự chỉ trích của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ

      Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

     Tác phẩm Tự chỉ trích của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ (với bút danh Trí Cường) được xuất bản vào tháng 7/1939, tức là vào giai đoạn cuối của cao trào dân chủ 1936-1939. Từ tháng 3-1938, Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Phong trào Mặt trận Dân chủ đã dấy lên hàng trăm cuộc bãi công của công nhân và đấu tranh của nông dân cùng các tầng lớp nhân dân khác. Phong trào đấu tranh công khai, hợp pháp trên báo chí và nghị trường  là một hình thức đấu tranh mới, nổi bật của Đảng trong thời kỳ 1936-1939. Nhiều loại báo chí của Đảng và tài liệu chịu ảnh hưởng của Đảng được phổ biến rộng rãi trong quần chúng, tờ này bị cấm tờ khác ra đời, có nhiều tờ phát hành với số lượng lớn hàng ngày như tờ báo Tin tức và tờ Dân chúng. Ngoài báo chí công khai, Đảng còn xuất bản các sách phổ thông giới thiệu về đấu tranh giai cấp, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản và Liên Xô, v.v.. . như Vấn đề dân cày (của Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp), cuốn Chủ nghĩa Mác (của Hải Triều)...

     Phong trào đấu tranh trên lĩnh vực nghị trường diễn ra mạnh mẽ, tiêu biểu là các cuộc vận động tranh cử vào các Viện dân biểu Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Hội đồng quản hạt Nam Kỳ. Mặt trận Dân chủ Đông Dương đã giành được thắng lợi trong các cuộc bầu cử Hội đồng dân biểu ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Tuy nhiên, trong cuộc bầu cử Hội đồng quản hạt Nam Kỳ vào tháng 4/1939, Mặt trận Dân chủ đã không thu được thắng lợi như mong muốn. Trước tình hình đó, một số cán bộ, đảng viên có những nhận xét không đúng về đường lối của Đảng, thậm chí còn công kích đường lối của Đảng.

     Đảng đã kịp thời và kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái với đường lối, chủ trương của Đảng; thống nhất quan điểm đánh giá đối với những vấn đề chiến lược, sách lược của Mặt trận Dân chủ, trên cơ sở đó, tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng, thể hiện rõ trong tác phẩm Tự chỉ trích của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, in trong tập sách Dân chúng, xuất bản tháng 7/1939. Đây là một tác phẩm tổng kết thực tiễn, tổng kết kinh nghiệm về xây dựng Đảng, xây dựng Mặt trận của cách mạng Việt Nam. Tác phẩm có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, đóng vai trò quan trọng trong xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức trong thời gian này.

      Kết cấu của tác phẩm

     Tác phẩm gồm phần mở đầu, nội dung và kết luận. Phần nội dung đề cập các vấn đề đó là:

     - Trước hết, phải nhận thế nào là tự chỉ trích Bônsơvích:

     - Một vài bài học nữa về cuộc tuyển cử cần vạch rõ: Mặt trận dân chủ chưa hẳn hoi thành lập được là vì ta chưa được mạnh;          Những khuyết điểm về cách tuyên truyền và ứng dụng chính sách Đảng; Đừng khinh thường nạn tờrốtkít; Không thể liên hiệp với các đảng phản động.

     - Các đảng phản động người bản xứ làm tay sai cho phát xít và đế quốc.

     - Mặt trận thống nhất ở bên trên và Mặt trận thống nhất ở bên dưới.

     - Trong một giai cấp có thể có nhiều đảng.

     - Người cộng sản là chiến sĩ thực tế, nhưng không phải bọn chính trị cận thị.

     - Căn cứ vào hành động để xét đoán người cách mệnh.

     - Không đánh đổ các giai cấp bản xứ trong giai đoạn lập Mặt trận Dân chủ.

     - Địa vị và năng lực của các đảng phái và lãnh tụ cải lương.

     - Thái độ đối với Đảng Lập hiến.

     -  Cần phân biệt bọn phản động với bọn cô độc hèn nhát để kéo kẻ có thể đồng minh.

     - Nhưng cũng cần phân biệt thái độ bọn cải lương lừng khừng hèn nhát với chủ trương thống nhất hành động để kéo quần chúng tranh đấu.

     - Muốn thực hiện Mặt trận Dân chủ,  phải khuếch trương cuộc vận động của dân chúng.

     -  Phân biệt kẻ nguy hiểm nhiều với kẻ nguy hiểm ít.

     Trong phần mở đầu, tác giả nêu lên hoàn cảnh, lý do, mục đích viết cuốn sách. Ngay sau tên cuốn sách Tự chỉ trích là một đoạn giới thiệu tóm tắt về nội dung, cũng như mục đích của cuốn sách “Thêm vài bài học quan trọng của cuộc tuyển cử hội đồng quản hạt. Thảo luận về ý kiến đánh đổ Đảng Lập hiến của anh Nguyễn Văn Tạo và chủ trương không đánh đổ một giai cấp nào, một đảng phái nào của người bản xứ của anh T.B”[1].

     Sau đó, tác giả trình bày cụ thể về hoàn cảnh trực tiếp đặt ra yêu cầu về sự cần thiết phải viết cuốn sách đó là: Sau cuộc tuyển cử Hội đồng quản hạt, các tầng lớp nhân dân bàn luận về kết quả cuộc tuyển cử, về những nguyên nhân làm cho Mặt trận dân chủ Đông Dương thất bại, còn nhóm tờrốtkít thì lại đắc cử. Thêm vào đó, trên báo Đông phương tạp chí có bài chỉ trích của tác giả Nguyễn Văn Tạo và báo Dân chúng có các bài viết của tác giả với bút danh T.B cũng thảo luận về vấn đề trên. “Một vài vấn đề mà dư luận độc giả, quốc dân, nhất là các đồng chí cộng sản vẫn đang xôn xao bàn luận. Những vấn đề ấy là chủ trương “đánh đổ Đảng Lập hiến” của anh Tạo và chủ trương “không đánh đổ một đảng phái nào, một giai cấp nào của người bản xứ” của anh T.B” (tr.619).

     Đồng chí Nguyễn Văn Cừ nhận thấy phải có trách nhiệm tham gia vào cuộc thảo luận: “Cũng như tất cả các đồng chí khác, tôi thấy có trách nhiệm phải tham gia vào cuộc thảo luận của anh T.B với anh Tạo, phải định rõ thái độ đối với những ý kiến mà các anh ấy đưa ra” (tr.620), với tinh thần “không bi quan hoảng hốt mà cũng không đắc chí tự mãn” mục đích là “để tìm ra những nguyên nhân thất bại và cả nghiên cứu phương pháp sửa lỗi và tiến thủ” (tr.620).

     Tham gia thảo luận các quan điểm về chủ trương, chính sách của Đảng, tức là thực hiện tự chỉ trích Bônsơvích, với mục tiêu trực tiếp là thống nhất về tư tưởng trong Đảng: “Những cuộc thảo luận điều khiển một cách đúng đắn là cần thiết để thống nhất tư tưởng,  một sự thống nhất thật sự, mạnh mẽ, dựa trên sự giác ngộ và trung thành của mọi người” (tr.621).

      Nội dung cơ bản về tự chỉ trích trong tác phẩm

     Sau phần mở đầu, nội dung đầu tiên được đồng chí nêu lên đó là “Trước hết, phải nhận thế nào là tự chỉ trích Bônsơvích”.          Trước hết, đồng chí Nguyễn Văn Cừ nêu lên quan điểm về nguyên tắc tự chỉ trích: “Tự chỉ trích Bônsơvích không phải là công kích Đảng, mạt sát Đảng, đặt danh dự cá nhân lên trên tất cả quyền lợi của Đảng, của cách mệnh”. Đồng chí đã đề cập đến một bài viết trên Đông phương tạp chí, chỉ ra rằng tác giả bài viết đó đã “lấy ý kiến không rõ ràng trong một bài báo của một bạn nào viết mà sau đó không thấy cải chính, cho đó là ý kiến chính thức của Đảng rồi công kích Đảng đối chọi với Đảng. Cử chỉ như thế không có gì giống với một người Bônsơvích chân chính biết trọng uy tín của Đảng” (tr.622).

     Từ đó, đồng chí đưa ra quan điểm: “Đối với uy tín của Đảng, thì danh dự cá nhân mình không có nghĩa lý gì, hay nói đúng ra không có nữa, vì một người đảng viên cộng sản chỉ biết lấy uy tín lấy danh dự chung của toàn Đảng làm danh dự của mình thôi” (tr.622). Theo đó, người đảng viên cộng sản phải biết lấy uy tín, lấy danh dự chung của toàn Đảng làm danh dự của mình, không được đem ý kiến cá nhân của mình, dù là đúng, để đối chọi với Đảng, gây chia rẽ trong Đảng, phá hoại Đảng. Đó là những hành động mang tính chất cơ hội. Bởi vậy, trong tự chỉ trích phải kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Mọi đảng viên đều có quyền thảo luận, có quyền tự chỉ trích, nhưng phải đúng nguyên tắc, tuyệt đối chấp hành kỷ luật của Đảng.

     Vì sao phải tự chỉ trích? Theo đồng chí Nguyễn Văn Cừ: “Đảng Cộng sản Đông Dương có con đường chính trị xác đáng, đã cương quyết tận tụy bênh vực quyền lợi cho dân chúng, điều ấy đã hẳn và được chứng tỏ. Nhưng cũng chắc rằng  Đảng vì còn trẻ tuổi nên còn phạm nhiều điều khuyết điểm, nhiều sự sai lầm; điều ấy Đảng luôn luôn tự chỉ trích thành thật và mạnh dạn công nhận để sửa đổi” (tr.622-623). Theo đồng chí, đối với một đảng chính trị còn trẻ tuổi, không tránh khỏi mắc khuyết điểm, thậm chí sai lầm, cho nên phải nhờ tự chỉ trích để nhận rõ khuyết điểm, mạnh dạn thừa nhận khuyết điểm và kịp thời sửa đổi. Trong đó, “mỗi đảng viên có quyền tự do thảo luận và chỉ trích” để đóng góp vào việc xây dựng Đảng, để mở rộng ảnh hưởng và tăng uy tín của Đảng. Đồng chí chỉ rõ rằng, việc tự chỉ trích đó “phải có nguyên tắc như trên đã nói” (tr.623).

     Về mục đích tự chỉ trích, tác phẩm đã chỉ ra rằng, tự chỉ trích là để làm cho Đảng ngày càng vững mạnh, để tăng uy tín và ảnh hưởng của Đảng: “Nhưng bao giờ sự chỉ trích cũng là tự chỉ trích Bônsơvích, nghĩa là để huấn luyện quần chúng và giúp đảng viên tự huấn luyện, để làm tăng uy tín và ảnh hưởng của Đảng, để cho Đảng được càng thống nhất và củng cố” (tr.623). Mục tiêu cao hơn hết là để Đảng có thể làm tròn sứ mệnh lãnh đạo cách mạng “để đưa phong trào phát triển lên, đưa cách mạng tới thắng lợi” (tr.623).

     Về thái độ, tinh thần, phương pháp tự chỉ trích. Trong tác phẩm, đồng chí Nguyễn Văn Cừ nêu lên yêu cầu đối với việc tự chỉ trích, phải “công khai, mạnh dạn, thành thực vạch những lỗi lầm của mình và tìm phương châm sửa đổi, chống những xu hướng hoạt đầu, thỏa hiệp, như thế không phải làm yếu Đảng, mà là làm cho Đảng được thống nhất, mạnh mẽ. Làm như thế không sợ bị địch nhân lợi dụng, chửi rủa vu cáo cho Đảng, không sợ “nối giáo cho giặc”. Trái lại, nếu “đóng kín cửa bảo nhau”, giữ cái vỏ thống nhất mà bề trong thì hổ lốn một cục, đầy rẫy bọn hoạt đầu, đó mới chính là để cho quân thù chửi rủa; hơn nữa, đó tỏ ra không phải một đảng tiền phong cách mạng, mà là một đảng hoạt đầu cải lương” (tr.624).

      3. Học tập quan điểm tự chỉ trích - tự phê bình và phê bình của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ

      Phát huy tinh thần trách nhiệm của người đảng viên, nhất là người đứng đầu

     Tại Hội nghị Trung ương lần thứ năm (3/1938), đồng chí Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Trong hoàn cảnh phức tạp của thời kỳ vận động dân chủ, Đảng ta gặp nhiều khó khăn. Kẻ thù luôn tìm cách đàn áp, bọn tờrốtkít khiêu khích phá hoại, một số cán bộ, đảng viên của Đảng bộc lộ những khuynh hướng sai lầm tả khuynh và hữu khuynh trong nhận thức và trong thực hiện chiến lược, sách lược cách mạng. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã có những chỉ đạo quan trọng và trực tiếp biên soạn nhiều văn kiện, tác phẩm nhằm định hướng phong trào cách mạng, tăng cường sự thống nhất ý chí và hành động của Đảng. Đặc biệt, vào tháng 4/1939, trong cuộc tuyển cử vào Hội đồng quản hạt Nam Kỳ, các đại biểu của Mặt trận Dân chủ không trúng cử, trong khi các phần tử tờrốtkít lại thắng cử. Trước tình hình đó, đã xuất hiện những ý kiến bất đồng trong trong nội bộ Đảng. Trên báo chí của Đảng đã có những bài viết với các quan điểm khác nhau, thậm chí công kích Đảng. Trước yêu cầu về đấu tranh củng cố nội bộ, với trách nhiệm của người đảng viên và cương vị là Tổng Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã tự nhận thấy rằng: “Người viết bài này, không thể giữ thái độ lãnh đạm hay mù mờ với những việc xảy ra trên kia”; “Cũng như tất cả các đồng chí khác, tôi thấy có trách nhiệm phải tham gia vào cuộc thảo luận…” tr.620). Với tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã chỉ ra sự cần thiết của tự chỉ trích, tức là đấu tranh tự phê bình và phê bình. Người đảng viên cần phải có tinh thần thẳng thắn nhìn nhận khuyết điểm, chỉ ra nguyên nhân và tìm ra phương pháp sửa đổi với tinh thần: “Phải phân tích xác thực hoàn cảnh, không bi quan hoảng hốt mà cũng không đắc chí tự mãn, để tìm ra những nguyên nhân thất bại và cả nghiên cứu phương pháp sửa lỗi và tiến thủ” (tr.620). Khi phân tích bài học về cuộc tuyển cử, đồng chí đã chỉ rõ: “Chúng ta không bao giờ có thể đổ hết những nguyên nhân thất bại cho việc quân thù đàn áp và cử tri chưa giác ngộ. Chúng ta phải biết nhìn nhận những khuyết điểm về chủ quan mà chúng ta gây ra, chính chúng ta phải chịu hoàn toàn trách nhiệm” (tr.624-625).

      Gắn lý luận với thực tiễn trong thực hiện tự phê bình và phê bình

     Nội dung trong tác phẩm cũng như cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Nguyễn Văn Cừ là tấm gương về người đảng viên luôn bám sát thực tiễn cách mạng, thông qua thực tiễn đấu tranh để rèn luyện, kết hợp nhuần nhuyễn giữa thực tế phong phú với lý luận khoa học, giải quyết đúng đắn những yêu cầu của cách mạng đề ra, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn, phức tạp.

Là người luôn theo sát phong trào cách mạng, có năng lực thực tiễn dày dạn, trong tác phẩm Tự chỉ trích, đồng chí đã có những đánh giá thẳng thắn rằng: “Mặt trận dân chủ chưa hẳn hoi thành lập được là vì ta chưa mạnh”. Qua phân tích tình hình, đồng chí chỉ ra rằng: “Chúng ta vận động để thành lập Mặt trận dân chủ từ hơn hai năm nay (…). Tuy nhiên M.T.D.C với các đảng phái vẫn chưa thành lập hẳn, mặc dầu có một ít nhà ứng cử cấp tiến ít nhiều. Điều đó vẫn biết một phần tại chính sách đàn áp, tại các phần tử tư bản tự do còn do dự, yếu ớt nhưng phải nhận phần chính là tại ta chưa đủ sức lãnh đạo quảng đại quần chúng thúc giục các đảng phái, nhân vật cấp tiến liên hiệp hành động, tại phong trào quần chúng chưa đủ mạnh để làm cho họ tin và mạnh dạn tham gia vào M.T.D.C (…). Ta còn phải làm nhiều việc nữa, làm việc không ngớt để lan rộng ảnh hưởng của Đảng…” (tr.625).

     Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng, đồng chí chỉ ra rằng “đừng khinh thường nạn tờrốtkít”, vì đây là một trong những nguyên nhân khiến cuộc đấu tranh nghị trường của Đảng ta chưa đạt kết quả tốt. “Về cuộc thất bại tuyển cử vừa qua, ta còn vạch ra một nguyên nhân rất quan trọng, ấy chính là sự khinh thường nạn tờrốtkít, sự khinh thường này đã thành một cái bệnh ăn sâu trong đầu óc nhiều đồng chí ta. Chúng ta chẳng phải những kẻ thấy thất bại sơ sơ là đâm hoảng hốt bi quan, song ta phải có can đảm mở to mắt ra nhìn sự thật” (tr.628). Đồng chí đã phân tích vạch rõ chân tướng của bọn tờrốtkít là bọn chống cộng sản, chống cách mạng, chia rẽ và phá hoại phong trào của quần chúng, từ đó nêu lên yêu cầu đối với người đảng viên, cần phải thâm nhập vào các tầng lớp dân chúng, chú ý đến lời nói, hành động của bọn tờrốtkít để vạch trần mưu mô của chúng.

     Đồng chí Nguyễn Văn Cừ là cán bộ lãnh đạo có năng lực tư duy lý luận sâu sắc. Dù chưa một lần ra nước ngoài, chưa gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, chưa dự một lớp huấn luyện chính quy của Đảng, nhưng đồng chí tỏ rõ khả năng lý luận xuất sắc. Dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ trong giai đoạn cách mạng 1939 - 1940, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đã được giải quyết một cách sáng tạo, phù hợp với quy luật vận động khách quan.

     Trong vấn đề thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất, tại Hội nghị Trung ương lần thứ năm (3/1938), đồng chí Nguyễn Văn Cừ nêu vấn đề thành lập Mặt trận dân chủ thống nhất Đông Dương (gọi tắt là Mặt trận Dân chủ). Từ sự phân tích khoa học, Đảng ta tán thành sáng kiến đó và quyết định không áp dụng mô hình Mặt trận bình dân theo kiểu của Cộng hòa Pháp, cũng không vận dụng mô hình Mặt trận dân tộc phản đế như ở Trung Quốc, mà thành lập Mặt trận dân chủ thống nhất. Đây là hình thức mặt trận phù hợp với thực tiễn Việt Nam để đoàn kết giai cấp công nhân, nông dân và thu hút được đội ngũ trí thức và các lực lượng theo xu hướng cải cách, dân chủ khác. Để làm rõ và thống nhất trong toàn Đảng về quan điểm nêu trên, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm “Các quyền tự do dân chủ với nhân dân Đông Dương”. Tác phẩm đã luận giải được những vấn đề lý luận cơ bản, trên cơ sở đó Đảng ta đưa ra những quyết sách chiến lược, sách lược trong phong trào cách mạng dân chủ.

     Năm 1939, trước những biến chuyển mới của tình hình thế giới và trong nước, nội bộ Đảng và phong trào cách mạng xuất hiện những khuynh hướng khác nhau, có thể gây chia rẽ, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng. Trên cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã có những chỉ đạo quan trọng tiến hành một cuộc đấu tranh sâu rộng trên mặt trận lý luận. Trước hết là đấu tranh vạch rõ chân tướng của bọn tờrốtkít, chỉ ra nguyên tắc liên hiệp giữa Đảng Cộng sản với các đảng phái khác. Trên phương diện đấu tranh củng cố nội bộ, tháng 7/1939, đồng chí đã cho in cuốn "Tự chỉ trích", một tác phẩm tổng kết thực tiễn mang tính lý luận sâu sắc, đóng góp quý báu vào kho tàng lý luận của Đảng ta.

      Tinh thần, thái độ thực hiện tự phê bình và phê bình: thẳng thắn nhìn nhận những sai lầm, khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa, mục đích cao nhất là vì uy tín của Đảng, vì lợi ích của nhân dân

     Với những vấn đề còn đang thảo luận trong Đảng, theo đồng chí Nguyễn Văn Cừ, mỗi đảng viên “có quyền tự do thảo luận, tự do chỉ trích, miễn là sự thảo luận luôn luôn giữ theo tinh thần Bônsơvích, không làm giảm uy tín của Đảng” (tr.621). Và đối với Đảng “phải cần làm cho các đảng viên giác ngộ, rõ ràng và đầy đủ trách nhiệm của mình, biết xoay phương hướng trong những hoàn cảnh khó khăn, nghiêm trọng, biết tự chỉ trích đúng và kịp thời những khuyết điểm, sai lầm: đồng thời Đảng phải tìm cách củ soát một cách thiệt sự hơn những hành động của mỗi đảng viên” (tr. 623). Với tinh thần nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng sự thật, rút kinh nghiệm từ những sai lầm, khuyết điểm trong đấu tranh xây dựng Đảng và trong vận động quần chúng, đồng chí chỉ ra rằng: “Chúng ta không bao giờ có thể đổ hết những nguyên nhân thất bại cho việc quân thù đàn áp và cử tri chưa giác ngộ. Chúng ta phải biết nhìn nhận những khuyết điểm về chủ quan mà chính ta gây ra, chính ta phải chịu hoàn toàn trách nhiệm” (tr.625). Như vậy, nhận thấy rõ khuyết điểm, sai lầm và có quyết tâm, có biện pháp sửa chữa là phương thức để xây dựng Đảng vững mạnh hơn đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng.

     Tác phẩm Tự chỉ trích của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã kịp thời chỉ ra khuyết điểm, uốn nắn những lệch lạc trong phong trào dân chủ, thực hiện tự phê bình và phê bình để tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong ý chí và hành động trong Đảng, đóng góp có giá trị vào kho tàng lý luận của Đảng ta. Giá trị lý luận và thực tiễn, tinh thần tự phê bình và phê bình trong tác phẩm Tự chỉ trích vẫn mang ý nghĩa sâu sắc trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.

     Từ khi thành lập và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng công tác xây dựng Đảng. Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Từ khi bước vào công cuộc Đổi mới năm 1986, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, như: Nghị quyết Trung ương 3, khóa VII  “Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng” (năm 1992); Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay” (năm 1999)…Trong các kỳ đại hội gần đây, Đảng ta đều có những điểm nhấn quan trọng: Đại hội X (năm 2006) tập trung vào “nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng” ; Đại hội XI (năm 2011) lấy “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng” làm một trong những thành tố quan trọng của chủ đề Đại hội; Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay"; Đại hội XII (năm 2016) nhấn mạnh: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” ngay trong tiêu đề của Báo cáo chính trị; Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã có sự bổ sung, đổi mới rất căn bản về phạm vi và nội dung, bao gồm toàn bộ các vấn đề "Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ."

     Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (năm 2021), công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ được đề cập trong Báo cáo chính trị, mà còn được trình bày riêng trong Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng. Trước hết về chủ đề, Đại hội XIII của Đảng đã phát triển thành tố “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” của Đại hội XII thành “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”. Nhận thức mới là bổ sung nhiệm vụ “xây dựng hệ thống chính trị” cùng với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; và không chỉ đề cập đến xây dựng Đảng, mà còn cả chỉnh đốn Đảng. Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, trực tiếp là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII rút ra 5 bài học kinh nghiệm; trong đó, bài học kinh nghiệm về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, nhấn mạnh: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ"[2]. Báo cáo chính trị và Báo cáo chuyên đề về công tác xây dựng Đảng tại Đại hội XIII của Đảng xác định 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp xây dựng Đảng trong 5 năm 2021 - 2025.

     Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021, về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021, về những điều đảng viên không được làm.

     Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16/6/2022, về tăng cường củng cố xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới. Theo đó, mục tiêu tổng quát là: Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Xây dựng đội ngũ cấp uỷ viên, nhất là bí thư cấp uỷ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng. Nâng cao chất lượng phát triển đảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

     Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là quá trình, bài học kinh nghiệm xuyên suốt của Đảng cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay. Tự phê bình và phê bình là biện pháp căn bản để xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống nhất của đảng, là quy luật phát triển của đảng. Tác phẩm Tự chỉ trích, tinh thần tự phê bình và phê bình của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ còn nguyên tính thời sự với công tác xây dựng Đảng hiện nay.

 

 

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, t.6 (1936 - 1939), tr.619. Những trích dẫn sau đây trong cùng tài liệu này, tác giả ghi số trang trích dẫn trong dấu ().

[2]Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 95

  Văn bản Nhà trường

  thời tiết

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

  Thư viện ảnh